1. Cho vay với lãi suất thế nào là hợp pháp ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em nên cho vay với lãi suất là 1500/1triệu/ngày...hay 2000/1triêu ngày..hoặc 3000/1triệu/ngày. với 3 mức trên thì mức nào hợp pháp ạ? Cảm ơn!

Trả lời:

Tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về lãi suất cho vay trong giao dịch dân sự như sau:

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Theo quy định trên, lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Theo đó, lãi suất tính theo ngày sẽ là 0,05%/ngày của khoản tiền vay. Bạn có thể đối chiếu với quy định trên để lựa chọn mức lãi suất cho vay phù hợp với quy định của pháp luật.

Bạn cần lưu ý rằng, nếu bạn cho vay với lãi suất vượt quá mức lãi suất tối đa tại quy định trên thì tùy mức độ, bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:

- Phạt vi phạm hành chính: Điểm d Khoản 3 Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định:

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

d) Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay.

- Truy cứu trách nhiệm hình sự: Điều 201 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định Tội cho vay lãi nặng trong giao dân sự:

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất154 quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên155, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Thưa luật sư, xin hỏi: Bố em là lao động chính trong nhà. Bố em mới mất. Để lại khoản nợ ngân hàng 400.000.000 đ cho em. Nhà có 2 anh em. Em năm nay 20 tuổi. Mới đi học đại học được 1 năm nhưng do điều kiện không cho phép nên chưa biết có theo hoc tiếp hay không. Em gái mới đi hoc cấp 2. Mẹ thì ốm. em xin hỏi có cách nào khoanh lãi ngân hàng lại đươc hay không. Để 2 anh em có điều kiện đi học tiếp

=> Bạn làm thủ tục xin gia hạn nợ với bên ngân hàng. Vì trường hợp này pháp luật không quy định cụ thể mà chỉ dựa vào sự thỏa thuận giữa bạn và ngân hàng thôi.

Thưa luật sư, xin hỏi: Hiện tại ở địa phương em đang sinh sống có bọn cho vay nặng lãi, gia đình và bạn bè em đã rất nhiều người vướng mắc phải bọn chúng. Em muốn luật sư tư vấn giúp em, em cần làm gì để đủ điều kiện pháp lý đưa bọn chúng ra trước pháp luật, để pháp luật trừng trị ạ?

=> Trước hết bạn cần phải thu thập bằng chứng về việc cho vay nặng lãi của họ như là giấy vay nợ, băng ghi âm, ghi hình việc cho vay vỡi lãi suất cao. Thông tin về tên, địa chỉ, số điện thoại, ảnh của những người cho vay nặng lãi (nếu có). Sau đó bạn làm đơn tố cáo gửi cơ quan công an:

Để thực hiện việc tố cáo, cần có trình tự tố cáo được quy định theo Luật tố cáo như sau:

Khi làm đơn, người tố cáo phải làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền qua đường bưu điện hoặc đến trực tiếp cơ quan.

Trong đơn tố cáo cần có nội dung chính gồm:

+ Tên cơ quan nhận đơn;

+ Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại (nếu có);

+ Họ, tên, địa chỉ của người bị tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền và nghĩa vụ liên quan;

+ Nêu rõ hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; những vấn đề cụ thể yêu cầu cơ quan tiếp nhận Đơn tố cáo giải quyết và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc tố cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Thưa luật sư, xin hỏi: Chồng em có cho một người bạn vay 160 triệu từ tháng 8/2015 và hứa 4 tháng sau thì trả cả gốc lẫn lãi tiền lãi thì tính theo lãi suất ngân hàng nhưng từ đó cho đến nay người đó vẫn chưa trả cả gốc và lãi mà chồng em có đòi thì toàn thất hẹn và gần một tháng nay là người đấy đã trốn khỏi nơi cư trú và tắt máy không liên lạc được. vậy luật sư cho em hỏi là chồng em có khởi kiện được người đó ko và khi cho vay thì chồng em và người đó đã viết giấy hợp đồng vay tiền chỉ có chữ ký của 2 bên vậy cho em hỏi tờ giấy đó có giá trị pháp lý không?

Giấy vay tiền có chữ ký của hai bên dù không công chứng vẫn có giá trị trước pháp luật. Hiên nay người này đã có hành vi bỏ trốn vì thế chồng bạn có thể tố cáo hành vi vủa người này với cơ quan Công an vì có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;"

Thưa luật sư, xin hỏi: Em có mua trả góp 1 chiếc xe taxi. em đã ký hợp đồng từ tháng 1 năm 2016. nhưng đến bây giờ em vẫn không nhận lại được hợp đồng em đã ký. hàng tháng em vẫn nộp tiền đầy đủ nhưng em xin gặp lãnh đạo để nói chuyện về tiền lãi và công nợ thì nhân viên hành chính cứ nói chưa có thời gian. Em nghĩ rằng công ty có dấu hiệu lừa đảo và o ép những người lao động. nếu phải kiện thì em phải kiến nghị với cơ quan nào a?

Bạn có thể làm hồ sơ khởi kiện gửi lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi diện ra sự việc mua xe. Tuy nhiên tại thời điểm hiện tại bạn chưa biết có phải công ty lừa đảo hay không nên bạn có thể làm đơn tố cáo lên cơ quan công an để cơ quan công an tiến hành điều tra làm rõ vụ việc

2. Vay tiền cho người khác vay để quay lãi nóng (lãi suất cao) có nên trình báo công an khi họ không trả nợ ?

Thưa luật sư, Mẹ tôi có nghe lời ngon ngọt của một người Quý khách và mẹ em đứng ra quay tiền cho người Quý khách đó (quay lãi nóng, lãi suất cao), nhưng giờ người Quý khách đó không chịu trả, kéo dài nhiều năm. Bây giờ tổng tiền quay và tiền lãi khoảng 100 – 160 triệu. Xin hỏi quý luật sư, mẹ tôi và gia đình tôi có nên trình báo công an hay không? Người Quý khách của mẹ có phạm tội gì không? Tôi xin cám ơn.

Trả lời:

Dân sự 2015 thì việc vay tài sản được quy định như sau:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

Cùng với đó, Khoản 7 Điều 683 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hình thức hợp đồng như sau:

7. Hình thức của hợp đồng được xác định theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó. Trường hợp hình thức của hợp đồng không phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật áp dụng đối với hợp đồng đó, nhưng phù hợp với hình thức hợp đồng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng hoặc pháp luật Việt Nam thì hình thức hợp đồng đó được công nhận tại Việt Nam.

Theo đó, Hợp đồng vay tài sản cụ thể là hợp đồng vay tiền có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng một hành vi cụ thể.Và hình thức của hợp đồng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng.

Về nghĩa vụ trả nợ:

Điều 466 BLDS 2015 cũng quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, mẹ bạn đi vay sau đó cho người khác vay lại, chỉ cần mẹ của bạn chứng minh được việc mình đã đưa cho người kia bao nhiêu tiền và hai người đã thỏa thuận thời điểm trả nợ là khi nào, nếu đến thời hạn đó rồi mà người kia cố tình không trả lại tiền cho mẹ bạn thì mẹ bạn có thể khởi kiện ra tòa để đòi tài sản hoặc nếu thấy có dấu diệu trốn tránh nghĩa vụ, cắt đứt liên lạc,... nhằm chiếm đoạt số tiền đã vay thì mẹ bạn có thể tố cáo cơ quan công an để điều tra làm rõ hành vi của người kia.

3. Hỗ trợ lãi suất cho khoản vay mua ngoại tệ nhập khẩu ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ngân hàng chúng tôi đã thực hiện hỗ trợ lãi suất cho 01 khoản vay mua ngoại tệ nhập khẩu lô hàng của khách hàng do tại thời điểm giải ngân hồ sơ khách hàng cung cấp hoàn toàn đủ căn cứ (HĐKT, Hóa đơn VAT, Biên bản giao hàng, Phiếu nhập kho, Báo cáo tồn kho) và khoản vay được bảo đảm bằng chính lô hàng này.

Tuy nhiên sau khi đi kiểm tra phát hiện thấy khách hàng đã thuê một công ty khác gia công lô hàng rồi bán lại cho một công ty X, công ty X này lại vay Ngân hàng khác để thanh toán. Như vậy công ty đã không sử dụng vốn vay đúng mục đích cam kết, ngân hàng chúng tôi có phải thu hồi số tiền đã hỗ trợ lãi suất cho công ty không?

Hỗ trợ lãi suất ?

>> Xem thêm:  Khái niệm, nội dung, mục đích và hậu quả pháp lý của cầm cố tài sản ? Mẫu hợp đồng cầm cố

Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Tại Điều 4 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngòai đối với khách hàng quy định nguyên tắc chi vay, vay vôn như sau:

Điều 4. Nguyên tắc cho vay, vay vốn

1. Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được thực hiện theo thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, phù hợp với quy định tại Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan bao gồm cả pháp luật về bảo vệ môi trường.

2. Khách hàng vay vốn tổ chức tín dụng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích, hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng thời hạn đã thỏa thuận với tổ chức tín dụng.

Ngoài ra, tại Điều 24 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về việc kiểm tra sử dụng tiền vay, theo đó, Tổ chức tín dụng có quyền thực hiện kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay, trả nợ của khách hàng theo quy trình nội bộ quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 22 Thông tư này.

Đồng thời tại Khoản 1 Điều 21 Thông tư này quy định về việc chấm dứt cho vay, xử lý nợ, miễn, giảm lãi tiền vay, phí như sau:

1. Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn theo nội dung đã thỏa thuận khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm quy định trong thỏa thuận cho vay và/hoặc hợp đồng bảo đảm tiền vay. Khi thực hiện chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn theo thỏa thuận trong thỏa thuận cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn. Nội dung thông báo tối thiểu bao gồm thời điểm chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, số dư nợ gốc bị thu hồi trước hạn; thời hạn hoàn trả số dư nợ gốc bị thu hồi trước hạn, thời điểm chuyển nợ quá hạn và lãi suất áp dụng đối với số dư nợ gốc bị thu hồi trước hạn.

Như vậy, tổ chức tín dụng có thể thực hiện quyền của mình trong trường hợp khách hành vi phạm theo các quy định chúng tôi viện dẫn ở trên.

4. Ngân hàng nhà nước Việt Nam có nên điều hành lãi suất cơ bản bằng khung lãi suất ?

>> Xem thêm:  Cầm đồ tài sản không chính chủ và trách nhiệm trả tiền thuộc về ai ? Kinh doanh dịch vụ cầm đồ

Lãi suất cơ bản nội tệ là một trong các công cụ của chính sách tiền tệ, do Thống đốc Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) điều hành. Căn cứ vào lãi suất cơ bản, các ngân hàng thương mại (NHTM) định ra lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của mình.

Ngân hàng nhà nước ViệtNam nên điều hành lãi suất cơ bản bằng khung lãi suất

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản nội tệ là một trong các công cụ của chính sách tiền tệ, do Thống đốc Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) điều hành. Căn cứ vào lãi suất cơ bản, các ngân hàng thương mại (NHTM) định ra lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của mình.

Tùy theo trình độ quản lý kinh tế vĩ mô của mỗi nước hoặc vùng lãnh thổ mà Thống đố NHTƯ có cách điều hành lãi suất cơ bản khác nhau. Cục Dự trữ liên bang Mỹ (NHTƯ – Fed) điều hành lãi suất cơ bản bằng lãi suất cho vay qua đêm giữa Fed với NHTM hoặc NHTM với nhau, vì nước Mỹ có hai loại ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại tiểu bang và Ngân hàng Thương mại liên bang.

Một số ngân hàng tư như ở Châu Âu điều hành lãi suất cơ bản bằng lãi suất liên ngân hàng – lãi suất cho vay ngắn hạn giữa các NHTM với nhau. NHTƯ Trung Quốc, NHTƯ cộng hòa Pháp… điều hành lãi suất cơ bản bằng, khung lãi suất (intérêt cadré). Vậy “Khung lãi suất” nghĩa là gì? “Khung lãi suất”, gồm: a/ Lãi suất thấp nhất huy động vốn kỳ hạn 12 tháng của NHTM – gọi là “sàn lãi suất”, nhằm đảm bảo quyền lợi bên gửi tiền; b/ Lãi suất cao nhất cho vay ngắn hạn của NHTM, gọi là “trần lãi suất”, nhằm bảo vệ quyền lợi bên vay tiền. Từ “sàn” đến “trần”, là “khung lãi suất”. Mỗi NHTM của một số nước được nâng “sàn” và hạ “trần” lãi suất. Hai hành vi ấy có lợi cho bên gửi tiền và bên vay tiền, nhưng NHTM bị giảm lãi suất. Ngoài ra, mỗi NHTM có quyền quy định lãi suất huy động vốn dưới 12 tháng; lãi suất huy động vốn từ 12 tháng trở lên (trung, dài hạn) và lãi suất cho vay trung dài hạn, theo biên độ do NHTƯ quy định..

Hiện nay, NHTƯ Trung Quốc không cho các NHTM nâng “sàn lãi suất”, nhưng được hạ “trần lãi suất” tối đa 10%, riêng cho vay tiêu dùng được hạ “trần lãi suất” 30%.

Từ ngày 15/9/2007 đến ngày 27/11/2008, NHTƯ Trung Quốc 4 lần hạ “khung lãi suất”, trong đó “sàn lãi suất” từ 3.87% năm hạ xuống 2,52% năm; “trần lãi suất” từ 7,29% năm hạ xuống 5,58% năm. Chênh lệch giữa “trần lãi suất” với “sàn lãi suất” từ 3,42% năm (7,29% – 3,87% = 3,42%) hạ xuống 3,33% năm (5,58% – 2,52% = 3,06%).

Năm 2007, Trung Quốc lạm phát 4,8% năm, người gửi tiền NHTM kỳ hạn 12 tháng, chỉ có lãi suất danh nghĩa mà không có lãi suất thực. Tức là “sàn lãi suất” nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát/năm-0.93%/năm (3,87% – 4,8% = -0,93%/năm) và năm 2008 cũng tương tự như năm 2007.

Thống đốc NHTM Việt Nam điều chỉnh lãi suất cơ bản

Từ 1/8/1998, Luật Ngân hàng nhà nước (NHHN) có hiệu lực, Thống đốc NHHN VIệt Nam thay đổi lãi suất cơ bản nhiều lần. Từ tháng 6/2002 đến nay, Thống đốc NHNN VIệt Nam điều hành lãi suất cơ bản gồm các mức: 7,25%/năm; 8,255/năm; 8,75%/năm; 12%/năm; 14%/năm; 13%/năm; 12%/năm; 11%/năm; 10%/năm; tháng 12/2008 là 8,5%/năm. Theo thống đốc NHNN Việt Nam, lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay thấp nhất của NHTM đối với khách hàng tốt nhất. Lãi suất cho vay tối đa của mỗi NHTM bằng 150% lãi suất cơ bản. Nhưng, Thống đốc NHNN không nói rõ lãi suất cho vay trên là lãi suất cho vay ngắn hạn hay lãi suất cho vay trung hoặc dài hạn! Ngược lai, các NHTM huy động vốn ngắn hạn (dưới 12 tháng) cao hơn lãi suất cơ bản. Hiện nay, lãi suất tín dụng ngân hàng của Việt Nam cao nhất trong khu vực. Hiệu ứng, những có nhiều tiên không muốn kinh doanh mà gửi tiền vào NHTM lợi hơn. Nhiều DN kinh doanh trì trệ do thiếu vốn mà không vay, vì lãi suất cho vay của NHTM quá cao.

Đầu năm 2008, Thống đốc NHNN Việt Nam đề nghị UBTV Quốc sửa Khoản 1, Điều 476, Bộ Luật dân sự năm 2005. UBTV Quốc hội không chấp nhận, vì Khoản 12, Điều 9, Luật NHNN là cơ sở cho Khoản 1, Điều 476, Bộ Luật dân sự năm 2005. Như vây, Khoản 1, Điều 476, Bộ Luật dân sự năm 2005, áp dụng khi bên cho vay không phải là NHTM. Lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay phải dựa vào lãi suất cơ bản của NHNN Việt Nam.

Khoản 1, Điều 1, Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 của Thống đốc NHNN Việt Nam về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, viết: “Các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh (lãi suất huy động, lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố để áp dụng trong từng thời kỳ”. NHNN Việt Nam soạn thảo Quyết định trên không rõ ràng, nên giám đốc chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện Gia Lâm (Hà Nội) huy động vốn ngắn hạn với lãi suất 21%năm.

Từ ngày thành lập Ngân hàng quốc gia (6/5/1951), nay là NHNN Việt Nam. lãi suất cho vay, gồm: lãi suất cho vay ngắn hạn, lãi suất cho vay trung dài hạn, lãi suất nợ quá hạn. Lãi suất nợ quá hạn của hai loại cho vay trên, bằng 150% lãi suất ghi trong khế ước. Thử hỏi, hiện nay,bên vay đã chịu lãi suất vay bằng 150% lãi suất cơ bản, nếu món vay đó bên vay bị chuyển sang nợ quá hạn sẽ là bao nhiêu>

Thống đốc NHNN đưa ra lãi suất cơ bản cao, khiến Bộ Tài chính phát hành trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu công trình và Kho bạc Nhà nước phát hành tín phiếu Kho bạc gặp nhiều khó khăn. Năm 2008, Bộ Tài chính tổ chức đấu thầu trái phiếu Chính phủ nhiều phiên không thành công; tín phiếu Kho bạc hầu như tê liệt.

Nước ta lạm phát quá cao, nhưng mang nội dung trì trệ. Biểu hiện hàng hóa không thiếu, nhưng sức mua của dân chúng giảm, dẫn đến sản xuất đình đốn. Biện pháp chống lạm phát của NHTƯ chủ yếu bằng tỷ lệ tiền gửi dự trữ bắt buộc cao hay thấp.

Và những kiến nghị

Để nâng cao vị thế NHTƯ, Thống đốc NHNN Việt Nam nên điều hành lãi suất cơ bản bằng “khung lãi suất”, trong đó “sàn lãi suất” ở mức 5%/năm; “trần lãi suất” ở mức 8,5%/năm. Nếu làm được như vậy, các thành phần kinh tế sẽ tiếp cận vốn vay từ các tổ chức tín dụng; góp phần tăng trưởng GDP; các NHTM cạnh tranh lãi suất huy động vốn và cho vay trong phạm vi “khung lãi suất”, trong đó có “lãi suất thỏa thuận”.

5. Cho vay với lãi suất thế nào là không bị tội hình sự ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Vào tháng 2/2016 em gái tôi có cho một người bạn vay số tiền là 20.000.000d. Và hẹn tới tháng 10/2016 sẽ trả với hình thức như sau. Hàng tháng vào 1 ngày cố định sẽ trả số tiền là 3.000.000d. Có nghĩa nếu tới tháng 10/2016 mà hoàn trả thì tổng cả gốc lẫn lãi là 24.000.000d vì hình thức giống như vay trả góp tháng.

Vậy cho hỏi em gái tôi có bị gọi là cho vay nặng lãi không ạ? Tôi đã đọc hết Điều 140 Bộ luật Hình sự nhưng tôi không biết tính lãi suất như thế nào ? Mong luật sư giải giùm thắc mắc.

Cho vay với lãi suất thế nào là không bị tội hình sự ?

>> Xem thêm:  Đất chuyên dùng ? Đất chuyên dùng có được cầm cố, thế chấp hay không ?

Luật sư tư vấn quy định pháp luật về lãi suất, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Mức lãi suất tối đa trong giao dịch dân sự được quy định cụ thể tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Các hình thức xử lý đối với hành vi cho vượt quá mức lãi suất quy định đã được trình bày cụ thể ở các bài viết phía trên.

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi tôi có vay ngân hàng xxx 14 triệu đóng trong vòng 30 tháng , 1 tháng đóng 883.000 , mới đóng được 8 tháng , vậy theo 14tr lãi suất là bao nhiêu có nặng lãi hay không. Tính ra 30 tháng số tiền 26.490.000 vậy có xem là nặng lãi không?

=> Lúc này tổng số tiền bạn phải trả là 26.490.000 mà nợ gốc là 14 triệu. Vậy lãi là 12.490.000 đồng. Trung bình 1 tháng bạn trả lãi là 416.000 đồng, vậy lãi suất là 2,97%/tháng. Vậy hành vi này chưa đủ cấu thành tội cho vay nặng lãi.

Thưa luật sư, Mẹ chồng của chị mình có vay 300 triệu đồng với lãi suất 5000 đồng /ngày/1 triệu.Phải sang tên bìa đỏ và hạn trong 2 năm phải trả hết nếu không sẽ mất nhà.Hiện tại gia đình rất khó khăn và không có tiền để trả nợ.Mong được công ty tư vấn giúp nên làm thế nào.

Trường hợp này lãi là 5000 đồng/ngày/1 triệu là vượt quá mức lãi suất nhà nước quy định. Lúc này bạn nên là đơn trình báo lên cơ quan công an về hành vi của ngân hàng để giải quyết. Khi đó bạn chỉ phải trả tiền theo lãi suất nhà nước quy định và số tiền vượt quá mà bạn đa trả trong thời gian trước đấy sẽ được trừ vào nợ gốc.

Thưa luật sư, Con em hôm nay vừa tròn 16 tháng cũng là số tháng mà gia đình em phải chi trả tiền lãi, mỗi tháng là 1 triệu 500 ngàn. Vì gia đình lúc đó không xoay được tiền nên người đó mở lời cho nhà em vay 5 triệu với điều kiện cứ nửa tháng người đó tới thu 750 ngàn. Gần đây, người đó tới nhà thương lượng rằng cho em thời gian 4 tháng để chi trả dần số tiền trên. Nhưng khi em hỏi kĩ thì em vẫn phải chi trả tiền lời là 3 triệu. Tóm lại là em phải chi trả mỗi tháng 2 triệu, trong đó có 3triệu tiền lời. Xin hỏi như vậy là hình thức cho vay lãi cao phải không? Nếu phải thì em phải liên hệ phòng ban nào giúp đỡ gia đình em đây?

=> Theo như bạn trình bày thì khoản nợ gốc là 5 triệu đồng, lãi là 3 triệu trong vòng 4 tháng ứng với lãi suất la 15%/tháng. Vậy hành vi này là hành vi cho vay lãi nặng theo tội hình sự. Lúc này bạn có thể làm đơn tố cáo lên cơ quan công an hoặc làm đơn khởi kiện gửi lên Tòa án để giải quyết.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

6. Mức lãi suất hợp pháp khi vay nợ là bao nhiêu ?

>> Xem thêm:  Rủi ro khi nhờ người đứng tên vay trả góp mua nhà và đứng tên nhà hộ là gì ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về hành vi nợ tiền và các vấn đề liên quan.

Trả lời:

Mức lãi suất tối đa theo quy định của pháp luật dấn sự là 20%/năm của khoản tiền vay. Nội dung cụ thể đã được trình bày ở các bài viết trên.

Thưa luật sư, Gia đình cháu có vay nóng với lãi suất cao, bình thường bố cháu rất cẩn thận trả lãi đều lấy lại giấy, nhưng hôm đó trả lãi bố cháu sai vì bố không lấy lại giấy đã thanh toán lãi vì người cho vay không đem theo nhưng người đó có kí tên trong quyển sổ của bố cháu, về sau người đó đem giấy đó đến và nói bố cháu chưa trả lãi, người cho vay không chấp nhận chữ kí đó và nói do bố cháu giả chữ kí,họ bắt bố cháu phải trả nếu không kiện ra tòa. Cho cháu hỏi là nếu ra tòa thì phần lợi sẽ về bên nào?

=> Bạn đem hợp đồng này đi giám định chữ ký để xác định đó là chữ ký của người đó đã nhận đủ tiền lãi do bố bạn trả tiền thì gia đình bạn sẽ có bằng chứng chứng minh mình đúng. Ngoài ra khi khởi kiện tại Tòa án, nếu bạn xác định được bên đó cho bạn vay với lãi suất vượt quá mức quy định trên thì phần lãi suất vượt quá sẽ vô hiệu, ngoài ra, nếu hành vi cho vay với lãi suất cao của bên cho vay đủ để xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự thì bên cho vay có thể sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Thưa luật sư, Cách đây 4 năm Gia đình tôi cho mượn sổ đỏ để bà cô làm thủ tục vay ngân hàng 1 tỷ đồng, cả gia đình nhà tôi kí vào hợp đồng vay nhưng người nhận tiền là bà cô tôi. Và bà cô trả lãi hàng tháng. Đến nay bà cô không trả lãi và gốc 6 tháng nay . tôi hỏi luật sư ngân hàng sẽ làm gi? và gia đình tôi sẽ phải làm gì để bảo vệ quyền lợi cho mình. Để lấy dc sổ đỏ về. Và lãi xuất ngân hàng không tăng.

=> Vì trường hợp là gia đình bạn cho cô ấy mượn sổ đỏ, nhưng giấy tờ kí vay là gia đình bạn trực tiếp kí nên theo phương diện pháp lý thì gia đình bạn sẽ phải chịu trách nhiệm. Nếu không trả được nợ ngân hàng sẽ khởi kiện lên Tòa án để tiến hành kê biên ngôi nhà và mảnh đất của bạn. Trường hợp này gia đình bạn phải yêu cầu cô ấy trả đủ tiền nợ cho ngân hàng mới có thể lấy được sổ đỏ về.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Vay tiền trả góp bị quá hạn thanh toán thì phải chịu trách nhiệm gì ?