1. Ví dụ về chủ thể đặc biệt của tội phạm ?

Một số cấu thành tội phạm đòi hỏi chù thể phải có thêm dấu hiệu đặc biệt khác vì chỉ chủ thể có dấu hiệu này mới có thể thực hiện được hành vi phạm tội mà cấu thành tội phạm phản ánh.

Chủ thể đòi hỏi phải có thêm dấu hiệu đặc biệt như vậy được gọi là chủ thể đặc biệt.

Việc quy định chủ thể đặc biệt không phải là để truy cứu trách nhiệm hình sự người có đặc điểm nhất định về nhân thân mà vẫn nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó chỉ có thể được thực hiện bởi người có đặc điểm nhất định về nhân thân.

Theo luật hình sự Việt Nam, những đặc điểm nhất định đó có thể thuộc những loại sau:

- Các đặc điểm liên quan đến chức vụ, quyền hạn.

Ví dụ: Tội tham ô (Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015), tội nhận hối lộ (Điều 354 BLHS)...;

- Các đặc điểm liên quan đến nghề nghiệp, tính chất công việc.

Ví dụ: Tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay (Điều 277 Bộ luật hình sự năm 2015), tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (Điều 284 Bộ luật hình sự năm 2015)...;

- Các đậc điểm liên quan đến nghĩa vụ phải thực hiện.

>> Xem thêm:  Các loại thực nghiệm điều tra ? Mục đích của thực nghiệm điều tra ?

Ví dụ: Tội trốn ttánh nghĩa vụ quân sự (Điều 332 Bộ luật hình sự năm 2015); tội không chấp hành án (Điều 380 Bộ luật hình sự năm 2015)...;

- Đặc điểm về quan hệ gia đình, họ hàng.

Ví dụ: Tội loạn luân (Điều 184 Bộ luật hình sự năm 2015), tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 186 Bộ luật hình sự năm 2015) V.V..

Ngoài các trường họp trên đây, Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định một số dấu hiệu khác cho chủ thể của tội phạm ở một số tội phạm. Trong đó có dấu hiệu được quy định nhằm thu hẹp phạm vi phải chịu TNHS về hành vi phạm tội.

Ví dụ: Dấu hiệu “đủ 18 tuổi trở lên" ở tội dâm ô với người dưới 16 tuổi (Điều 146 Bộ luật hình sự năm 2015). Trường hợp này cũng được coi là không trái với nguyên tắc chung khi quy định dấu hiệu đặc biệt của chủ thể.

Trường hợp quy định thêm dấu hiệu đặc biệt của chủ thể mà có ý kiến khác nhau là trường hợp quy định dấu hiệu đặc biệt của chủ thể để thay thế cho dấu hiệu hậu quả thiệt hại.

Ví dụ: Dấu hiệu “đã bị xừ phạt hành chính” ở tội trộm cắp tài sản (Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015) (dấu hiệu này thay cho dấu hiệu “tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng). Hiện có ý kiến cho rằng, cần phải xem xét lại trường hợp này vì quy định như vậy là không phù họp với nguyên tắc chung.

Những đặc điểm nêu trên, khi đã được quy định trong cấu thành tội phạm thì trở thành dấu hiệu bắt buộc và có ý nghĩa trong việc định tội danh. Nhưng cần chú ý rằng trong những vụ đồng phạm, những đặc điểm đó chỉ đòi hỏi ở những người thực hiện tội phạm (người thực hành). Những người đồng phạm khác (tổ chức, xúi giục, giúp sức) không đòi hỏi phải có những dấu hiệu đặc biệt của chủ thể đặc biệt. Ví dụ: Người không có chức vụ, quyền hạn có thể xúi giục người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến tài sản tham ô tài sản...

2.Khái niệm chủ thể đặc biệt của tội phạm ?

Chủ thể của tội phạm thông thường đòi hỏi phải đáp ứng dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự. Với những tội phạm cụ thể cần phải có thêm những dấu hiệu đặc trưng khác mà không có nó thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không thể trở thành là chủ thể của tội phạm đó được. Những chủ thể đòi hỏi dấu hiệu đặc biệt như vậy gọi là chủ thể đặc biệt. Như vậy, việc quy định chủ thể đặc biệt không nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người có đặc điểm nhất định về nhân thân mà vẫn nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó chỉ có thể được thực hiện bởi người có những đặc điểm nhất định.

>> Xem thêm:  Thực nghiệm điều tra là gì ? Quy định mới về thực nghiệm điều tra

3. Các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt của tội phạm

Các dấu hiệu liên quan đến chức vụ, quyền hạn: Ví dụ, tội tham ô tài sản đòi hỏi dấu hiệu đặc biệt của chủ thể phải là người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp quản lý tài sản.

Các dấu hiệu liên quan đến nghề nghiệp, công việc: Ví dụ, tội cung cấp tài liệu sai sự thật, tội khai báo gian dối yêu cầu chủ thể phải là người giám định, người phiên dịch hoặc người làm chứng.

Các dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ: Ví dụ, tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự yêu cầu chủ thể phải là người đang ở tuổi mà theo quy định của pháp luật phải thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Các dấu hiệu liên quan đến tuổi: Ví dụ, tội giao cấu với trẻ em đòi hỏi chủ thể phải là người đã thành niên (đủ 18 tuổi).

Các dấu hiệu liên quan đến quan hệ, họ hàng: Ví dụ, tội ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con cái đòi hỏi chủ thể phải là cha mẹ, vợ chồng, con cái.

Các dấu hiệu liên quan đến quốc tịch: Ví dụ, tội phản bội tổ quốc, chủ thể ngoài có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định thì còn phải là công dân nước Việt Nam.

Các dấu hiệu khác: Ví dụ, tội giết con mới đẻ đòi hỏi chủ thể phải là bà mẹ mới sinh (từ khi sinh con đến ngày thứ 7).

Như vậy, các đặc điểm của chủ thể đặc biệt là bắt buộc và có ý nghĩa quyết định trong việc định tội. Tuy nhiên, đối với các vụ phạm tội do đồng phạm, các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt chỉ đòi hỏi đối với người thực hành, những người khác không cần các dấu hiệu đặc biệt của tội phạm đó.

4. Hậu quả của tội phạm

>> Xem thêm:  Khám xét là gì ? Quy định pháp luật về khám xét người, khám xét chỗ ở ?

- Hậu quả tác hại của tội phạm là một trong các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm, là thiệt hại do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra cho quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ, gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần.

  • Thiệt hại vật chất là những thiệt hại đo đếm, xác định được mức độ nhất định như chết người, gây thương tích với tỷ lệ % tổn hại sức khỏe, thiệt hại tài sản được quy ra bằng tiền v.v…
  • Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại khác mà không xác định được lượng mức độ thiệt hại như tội vu khống, tội làm nhục người khác, tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội v.v. Hậu quả tác hại có ý nghĩa quan trọng để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm. Hậu quả tác hại càng lớn thì mức độ nguy hiểm của tội phạm càng cao.

Hậu quả tác hại của tội phạm có ý nghĩa xác định giai đoạn hoàn thành của tội phạm. Tội có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành khi hành vi nguy hiểm đã gây ra hậu quả tác hại. Tội có cấu thành hình thức được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội theo quy định của điều luật cụ thể trong Bộ luật Hình sự.Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm là mối quan hệ giữa các hiện tượngtrong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vi khách quan) làm phát sinh một hiện tượng khác là kết quả (là hậu quả của tội phạm).

5.Mặt chủ quan của tội phạm

Các hình thức lỗi của tội phạm;

– Lỗi cố ý trực tiếp

Lỗi cố ý gián tiếp được quy định tại Khoản 2, Điều 10 BLHS 2015 theo đó: Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

Với khái niệm trên cho thấy lỗi cố ý trực tiếp được thể hiện như sau:

  • Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi và nhận thức rõ hậu quả tất yếu xẩy ra hoặc có thể xảy ra.
  • Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra.

– Lỗi cố ý gián tiếp

Lỗi cố ý gián tiếp được quy định tại Khoản 2, Điều 10 BLHS 2015 theo đó: Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

>> Xem thêm:  Chiến thuật hỏi cung bị can là gì ? Các bước tiến hành việc hỏi cung bị can

Với khái niệm trên cho thấy lỗi cố ý gián tiếp được thể hiện như sau:

  • Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi và nhận thức rõ hậu quả có thể xảy ra.
  • Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng bỏ mặc không quan tâm đến hậu quả, hậu quả xảy ra như thế nào cũng chấp nhận.

– Lỗi vô ý vì quá tự tin

Lỗi vô ý vì quá tự tin được quy định tại Khoản 1, Điều 11 BLHS 2015, theo đó: Lỗi vô ý vì quá tự tin là lỗi của người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

Với khái niệm trên cho thấy lỗi vô ý vì quá tự tin được thể hiện như sau:

  • Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi và nhận thức rõ hậu quả có thể xảy ra.
  • Về ý chí: Người phạm tội loại trừ khả năng hậu quả xảy ra.

– Lỗi vô ý do cẩu thả

  • Về lý trí: Người phạm tội trong lỗi vô ý do cẩu thả do cẩu thả nên không thấy trước hậu quả của hành vi nhưng trong điều kiện phải thấy trước và có thể thấy được hậu quả đó.
    Như vậy, việc người phạm tội không thấy trước hậu quả của hành vi là do nguyên nhân chủ quan từ phía người phạm tội.
  • Về ý chí: Trong lỗi vô ý do cẩu thả người phạm tội không có khả năng điều khiển được hành vi của mình (tức là người phạm tội không có ý chí). Vì về lý trí người phạm tội không nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi và cũng không nhận thức được hậu quả của hành vi đó. Mà giữa lý trí và ý trí trong quan hệ tâm lý của người phạm tội là 2 yếu tố có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó, lý trí có trước và làm tiền đề, ý chí phụ thuộc vào ý chí. Nếu khi hành động con người không có lý trí (không có khả năng nhận thức) thì không bao giờ có ý chí (không thể có khả năng điều khiển hành vi và hậu quả được).
    Muốn xác định người phạm tội có thể nhận thức được hoặc buộc phải nhận thức được hậu quả đó hay không? phải đặt trong từng hoàn cảnh cụ thể mới có thể đánh giá và kết luận được.

Luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Hỏi cung bị can là gì ? Phân tích quy định pháp luật về hỏi cung bị can ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Cải tạo không giam giữ ?

Trả lời:

1. Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

2. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.

Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự.

4. Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Câu hỏi: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất địn

Trả lời:

Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó thì có thể gây nguy hại cho xã hội.

Thời hạn cấm là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

Câu hỏi: Tước một số quyền công dân ?

Trả lời:

1. Công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật này quy định, thì bị tước một hoặc một số quyền công dân sau đây:

a) Quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước;

b) Quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.

2. Thời hạn tước một số quyền công dân là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.