1. Chủ thể của tội phạm
Để có thể có lỗi khi thực hiện hành vi khách quan đòi hỏi chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi theo yêu cầu của xã hội. Hai năng lực này có thể được gọi chung ttong luật hình sự là năng lực lỗi. Tuy nhiên, không phải ai có năng lực lỗi đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS). Trách nhiệm hình sự được Nhà nước quy định và thể hiện chính sách hình sự của quốc gia, trong đó có chính sách về độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo đó, chủ thể của tội phạm còn đòi hỏi phải đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực lỗi và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Người thoả mãn cả hai điều kiện này được coi là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Trong đó, năng lực lỗi là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển được hành vi theo đòi hỏi của xã hội, còn độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được luật hình sự quy định tùy thuộc vào chính sách hình sự của quốc gia vào từng thời điểm.
Từ đó có thể định nghĩa:
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm theo luật định khỉ thực hiện hành vi phạm tội.
Điều 8, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 khi định nghĩa khái niệm tội phạm xác định chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự (‘Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện
Điều 8 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định chủ thể thứ hai thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là pháp nhân thương mại. Tuy nhiên, quy định này chỉ có nghĩa, pháp nhân thương mại khi phải chịu trách nhiệm hình sự (về tội cụ thể có quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại) do thoả mãn điều kiện chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 75 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì cũng bị coi là đã thực hiện tội phạm. Pháp nhân thương mại chỉ là chủ thể của trách nhiệm hình sự về tội phạm mà chủ thể thực hiện là con người. Con người là chủ thể thực hiện tội phạm và cũng là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã thực hiện đó. Pháp nhân thương mại tuy không phải là chủ thể thực hiện tội phạm nhưng có thể vẫn là chủ thể của trách nhiệm hình sự về tội phạm do “người có năng lực trách nhiệm hình sự” thực hiện nếu pháp nhân thương mại có quan hệ với người thực hiện tội phạm (nhân danh pháp nhân thương mại) và với tội phạm đã thực hiện (vì lợi ích của pháp nhân thương mại) như Điều 75 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định.
Ngoài năng lực trách nhiệm hình sự, chủ thể của một số tội phạm còn đòi hỏi có thêm dấu hiệu đặc biệt khác vì chủ thể chỉ có thể thực hiện được hành vi phạm tội của những tội này khi có những dấu hiệu đó.
Ví dụ: Chỉ những người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến tài sản mới có thể thực hiện được hành vi tham ô tài sản là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lí (Điều 353 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017). Chủ thể của tội phạm đòi hỏi thêm dấu hiệu đặc biệt đó được gọi là chủ thể đặt biệt của tội phạm.
>> Xem thêm: Chủ thể của tội phạm là gì? Điều kiện về chủ thể của tội phạm?
2. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm. Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây thiệt hại hoặc hướng tới gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ. Không gây thiệt hại hoặc hướng tới gây thiệt hại cho đối tượng là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì hành vi khách quan không có tính gây thiệt hại và do vậy cũng không có tội phạm.
3. Phân tích ý nghĩa khách thể của tội phạm
Cũng như hành vi khác của con người, hành vi phạm tội cũng hướng vào đối tượng nhất định nhưng không phải để cải biến mà gây thiệt hại cho đối tượng đó. Trong luật hình sự, đối tượng bị tội phạm hướng tới gây thiệt hại được gọi là khách thể của tội phạm.
Xuất phát từ những cách định nghĩa tội phạm khác nhau, có thể có những trả lời khác nhau về câu hỏi: Khách thể bị tội phạm gây thiệt hại là gì?
Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở định nghĩa tội phạm về nội dung, khẳng định: Khách thể bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
Quan điểm này đã được khẳng định ttong BLHS tại Điều 1 - Nhiệm vụ của BLHS và Điều 8 - Khái niệm tội phạm.
Trong bất cứ chế độ xã hội nào, nhà nước cũng đều xác lập, bảo vệ, củng cổ và thúc đẩy sự phát triển của những quan hệ xã hội nhất định bằng sự hỗ trợ của các quy phạm pháp luật, ttong đó có quy phạm pháp luật hình sự. Các hành vi vi phạm pháp luật nói chung cũng như hành vi phạm tội nói riêng đều là những hành vi về hình thức mâu thuẫn với quy phạm pháp luật và về nội dung xâm hại ở mức độ khác nhau các quan hệ xã hội đã được nhà nước xác lập.
Trong hệ thống quan hệ xã hội, các quan hệ xã hội có ý nghĩa khác nhau đối với sự phát triển của xã hội và được nhà nước bảo vệ bằng những loại quy phạm pháp luật khác nhau với những biện pháp cưỡng chế khác nhau. Khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội được nhà nước xác định cần được bảo vệ bằng những quy phạm pháp luật hình sự. Những quan hệ xã hội đó sẽ là khách thể của tội phạm trong trường hợp bị xâm hại (bị gây thiệt hại hoặc bị đe dọa gây thiệt hại) ở mức độ nhất định. Như vậy có thể định nghĩa:
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.
Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định tại Điều 8 của BLHS. Do vậy, hành vi bị coi là tội phạm theo luật hình sự Việt Nam phải là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội đã được xác định đó. Nhưng như vậy không có nghĩa hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội này trong mọi trường hợp đều bị coi là tội phạm mà chỉ trong những trường hợp hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội và những trường hợp này đã được xác định tại các điều luật thuộc Phần các tội phạm của BLHS.
Như vậy, khách thể bảo vệ của luật hình sự và khách thể của tội phạm tuy đều là quan hệ xã hội nhưng có sự khác nhau. Khách thể bảo vệ của luật hình sự là các quan hệ xã hội được luật hình sự xác định cần bảo vệ. Chỉ khi quan hệ xã hội này bị xâm hại và hành vi xâm hại có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội nên bị coi là tội phạm thì quan hệ xã hội đó được coi là khách thể của tội phạm.
4. Các loại khách thể của tội phạm
Khoa học luật hình sự Việt Nam phân biệt ba loại khách thể của tội phạm: Khách thể chung của tội phạm, khách thể loại của tội phạm và khách thể trực tiếp của tội phạm. Các khái niệm này đều chỉ các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại nhưng ở mức độ bao quát khác nhau.
4.1 Khách thể chung của tội phạm
Khách thể chung của tội phạm là hệ thống các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.
Theo luật hình sự Việt Nam, khách thể chung của tội phạm là hệ thống các quan hệ xã hội đã được xác định tại Điều 1 cũng như Điều 8 của BLHS và bị tội phạm xâm hại. Đó là: Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ'chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức; quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân ...
Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều xâm hại khách thể chung của tội phạm, đều xâm hại hệ thống quan hệ xã hội được xác định là khách thể bảo vệ của luật hình sự qua việc xâm hại bộ phận cấu thành hệ thống đó.
Khách thể chung của tội phạm có thể cho thấy phạm vi những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ cũng như một phần chính sách hình sự của Nhà nước.
4.2 Khách thể loại của tội phạm
Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất được nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị nhóm tội phạm xâm hại.
Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng đều xâm hại khách thể loại của tội phạm, cũng đều xâm hại bộ phận hợp thành của nhóm quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ.
Khách thể loại của tội phạm là cơ sở cho việc hệ thống hoá các quy phạm trong Phần các tội phạm của BLHS thành từng chương. Các tội phạm tuy khác nhau về chủ thể, về mặt khách quan hoặc chủ quan nhưng nếu xâm hại cùng nhóm quan hệ xã hội thì được xếp vào cùng chương. Hệ thống hoá các quy phạm Phần các tội phạm cuả BLHS theo khách thể loại của tội phạm là sự hệ thống theo yếu tố quyết định tính chất của tội phạm, xếp các tội phạm trong BLHS theo khách thể loại của tội phạm là cách xếp có tính hợp lí và khoa học. Trong BLHS có hai nhóm tội phạm tuy được xếp theo chủ thể (các tội phạm về chức vụ; các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phổi thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu) nhưng thực chất vẫn là xếp theo khách thể loại của tội phậin vì chỉ có những người có các đặc điểm nhất định về nhân thân mới có thể xâm hại khách thể loại của tội phạm nhất định.
4.3 Khách thể trực tiếp của tội phạm
Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm cụ thể xâm hại mà sự xâm hại này phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đó.
Khách thể trực tiếp của tội phạm trước hết phải là quan hệ xã hội bị tội phạm cụ thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại và qua sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại này mà tội phạm xâm hại khách thể loại của tội phạm cũng như khách thể chung của tội phạm.
Tội phạm có thể xâm hại nhiều quan hệ xã hội nhưng không phải tất cả những quan hệ xã hội bị xâm hại đều được coi là khách thể trực tiếp của tội phạm. Trong trường hợp nhiều quan hệ xã hội cùng bị xâm hại (gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại) thì quan hệ xã hội được coi là khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội mà sự xâm hại quan hệ xã hội đó, nếu căn cứ vào tất cả các mặt như tính chất quan trọng của quan hệ xã hội, mức độ bị gây thiệt hại, mục đích chủ quan của người phạm tội... thể hiện được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Ví dụ: Hành vi cắt cáp viễn thông đang sử dụng vừa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu vừa gây thiệt hại cho an toàn viễn thông, vì đối tượng tác động ở đây là tài sản đồng thời là có sở hạ tầng viễn thông. Trong hai thiệt hại này, rõ ràng thiệt hại cho an toàn viễn thông mới thể hiện được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Khách thể trực tiếp của hành vi phạm tội này là an toàn viễn thông - một bộ phận của an toàn công cộng. Do vậy, hành vi phạm tội này được xếp vào Chương các tội xâm phạm an toàn công cộng, ttật tự công cộng với tội danh là tội phá huỷ công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303 BLHS) mà không được xếp vào Chương các tội xâm phạm sở hữu.
Như vậy, việc xác định khách thể trực tiếp của tội phạm là căn cứ để xếp tội phạm vào các chương trong BLHS.
Bất cứ tội phạm nào cũng đều có khách thể trực tiếp của tội phạm. Cọ tội phạm chỉ có một khách thể trực tiếp của tội phạm. Nhưng cũng có tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp của tội phạm. Đó là trường hợp tội phạm xâm hại nhiều quan hệ xã hội và sự gây thiệt hại cho một ttong các quan hệ xã đó đều chưa thể hiện được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chỉ được thể hiện một cách đầy đủ trong sự tổng hợp các thiệt hại đã gây ra hoặc đe doạ gây ra cho các quan hệ xã hội. Và như vậy, không phải chỉ cố một quan hệ xã hội mà cổ nhiều quan hệ xã hội được coi là khách thể trực tiếp của tội phạm. Ví dụ: Hành vi cướp tài sản vừa xâm hại quan hệ nhân thân vừa xâm hại quan hệ sở hữu. Sự xâm hại quan hệ nhân thân hay sự xâm hại quan hệ sở hữu đều chưa phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi cướp tài sản. Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi cướp tài sản chỉ được thể hiện đầy đủ qua sự xâm hại của cả hai quan hệ xã hội - quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Do vậy, quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân đều là khách thể trực tiếp của tội cướp tài sản.
5. Các yếu tố cấu thành khác của tội phạm
Ngoài yếu tố khách thể, cấu thành tội phạm còn gồm có: chủ thể, mặt chủ quan và mặt khách quan. Cụ thể:
Chủ thể
Chủ thể tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 bao gồm hai đối tượng: cá nhân và pháp nhân thương mại.
– Chủ thể của tội phạm là cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, có đủ khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình, đạt độ tuổi theo luật định. Hành vi đó được quy định theo pháp luật hình sự.
Pháp luật hình sự quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
“Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”
Ngoài những tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định tại các điều luật nêu trên thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
– Ngoài ra, chủ thể của tội phạm cũng có thể là pháp nhân thương mại. Việc pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Cá nhân trong pháp nhân thương mại có hành vi trái pháp luật vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự, dù cho pháp nhân do cá nhân đó làm chủ đã chịu trách nhiệm hình sự.
Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của tội phạm được thể hiện dưới dạng lỗi cố ý hoặc vô ý. Lỗi là trạng thái tâm lý của tội phạm được đánh giá dưới các góc nhìn về động cơ và mục đích của hành vi.
– Lỗi vô ý là khi người thực hiện có thể nhận thức được hành vi của mình có thể hoặc không thể gây nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả của hành vi sẽ không xảy ra hoặc khi hậu quả xảy ra có thể phòng ngừa được. Lỗi vô ý được phân loại thành lỗi vô ý do cẩu thả và lỗi vô ý do quá tự tin.
– Lỗi cố ý là khi người thực hiện nhận thức được hành vi của mình là gây nguy hại cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó nhưng mong muốn hậu quả đó sẽ xảy ra. Lỗi cố ý được phân loại thành lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp.
Mặt khách quan
Dấu hiệu khách quan của tội phạm được thể hiện qua tính chất nguy hiểm của hành vi; hậu quả hành vi gây ra; công cụ, phương tiện, thủ đoạn,…. thực hiện hành vi.
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến các quy định của luật hình sự về tội phạm, hình phạt Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)