* Khái niệm: Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định và thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự là phạm tội.

Dấu hiệu về chủ thể của tội phạm được quy định trong mọi cấu thành tội phạm (CTTP). Ngoài những dấu hiệu trên còn có những dấu hiệu về chủ thể đặc biệt được quy định trong một số cấu thành tội phạm.

* Ý nghĩa: Nghiên cứu về chủ thể của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Để truy cứu trách nhiệm hình sự của một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì người đó phải có đủ các dấu hiệu được quy định trong chủ thể của tội phạm.

Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.

Ví dụ: Chỉ người có đủ tuổi theo luật định mới là người có đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, tức là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể thực hiện một hành vi có lỗi...

Vì vậy, cần thiết phải nắm được các dấu hiệu chủ thể của tội phạm.

Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm, như sau:

 

1. Khái niệm chủ thể của tội phạm 

Chủ thể của tội phạm được hiểu là những cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi phạm tội. Việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm trong một vụ án thì cần dựa vào nhiều yếu tố khác nhau. Theo quy định của pháp luật thì chủ thể của tội phạm phải là người có khả năng nhận thức và điều khiển những hành vi của mình hay chính là năng lực trách nhiệm hình sự và đạt một độ tuổi nhất định quy định chi tiết tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì mới có thể xác định tội danh và hình phạt được áp dụng. Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.

 

1.1. Chủ thể của tội phạm là cá nhân

Chủ thể của tội phạm là cá nhân phải là người đạt một độ tuổi nhất định và có khả năng nhận thức những hành vi của mình có thể gây nguy hiểm cho xã hội bằng cách hành động hay không hành động. Tức là, phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định (ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể chủ thể của tội phạm còn có một số dấu hiệu bổ sung đặc biệt do quy phạm pháp luật hình sự tương ứng quy định).

Theo đó, dấu hiệu của chủ thể tội phạm hình sự là cá nhân như sau:

- Phải có năng lực trách nhiệm hình sự:

Pháp luật hình sự hiện hành không quy định năng lực chịu trách nhiệm hình sự là gì mà chỉ đưa ra quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, có năng lực trách nhiệm hình sự được hiểu là trường hợp có trạng thái bình thường để hoàn toàn có khả năng nhận thức được tính chất thực tế, tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện và điều khiển được hành vi ấy.

Với trường hợp người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, trong trường này, người sử dụng rượu, bia vẫn được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự, vì bản chất của quy định này được hiểu là người sử dụng rượu, bia có quyền lựa chọn việc sử dụng hay không sử dụng rượu, bia, các chất kích thích mạnh khác và người sử dụng những chất kích tích này có nghĩa vụ phải biết rằng việc sử dụng các chất kích thích này có thể làm cho họ rơi vào tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dẫn đến phạm tội. Do đó xét cho cùng thì việc họ bị mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi khi sử dụng chất kích thích dẫn đến phạm tội là do ý chí chủ quan của người đó, nên trường hợp này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự bình thường. Ngoài ra việc sử dụng chất kích thích để phạm tội trong một số trường hợp sẽ được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Với trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, đối với trường hợp này, người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình thì được coi là không có năng lực trách nhiệm hình sự.

- Phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

Được hiểu là người thực hiện hành vi phạm tội phải đủ tuổi do pháp luật hình sự quy định tại thời điểm thực hiện tội phạm, Điều 12 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142,143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289,290,299, 303 và 304 của Bộ Luật Hình sự.

Như vậy, có thể hiểu đơn giản là độ tuổi để bị truy cứu trách nhiệm hình sự là từ 14 tuổi, trong đó, từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại các điều trên.

Chủ thể đặc biệt của tội phạm

Chủ thể của tội phạm thông thường đòi hỏi phải đáp ứng dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự. Với những tội phạm cụ thể cần phải có thêm những dấu hiệu đặc trưng khác mà không có nó thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không thể trở thành là chủ thể của tội phạm đó được. Những chủ thể đòi hỏi dấu hiệu đặc biệt như này được gọi là chủ thể đặc biệt.

Theo đó, chủ thể đặc biệt của tội phạm có thể hiểu là những người mà ngoài các dấu hiệu cần thiết của chủ thể tội phạm nói chung thì còn phải có những dấu hiệu riêng biệt khác về chức vụ, quyền hạn, giới tính và một số đặc điểm khác do pháp luật quy định.

Những dấu hiệu đặc biệt có thể thuộc một trong các dạng sau:

- Các dấu hiệu liên quan đến chức vụ, quyền hạn: Ví dụ như tội tham ô tài sản quy định tại Điều 353 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Các dấu hiệu liên quan đến nghề nghiệp, công việc: Ví dụ như tội cung cấp tài liệu sai sự thật, tội khai báo gian dối quy định tại Điều 382 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Các dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ: Ví dụ, tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự quy định tại Điều 332 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Các dấu hiệu liên quan đến độ tuổi: Ví dụ, tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được quy định tại Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì lại đòi hỏi chủ thể phải là người đã thành niên (đủ 18 tuổi).

Như vậy, việc quy định chủ thể đặc biệt không nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người có đặc điểm nhất định về nhân thân mà vẫn nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó chỉ có thể được thực hiện bởi người có những đặc điểm nhất định. Phổ biến là đối với một số tội phạm pháp luật có yêu cầu chủ thể là cá nhân phải có thêm các dấu hiệu khác như chủ thể có chức vụ, quyền hạn, là chủ thể xác định như điều tra viên, kiểm sát viên, ... gọi là chủ thể đặc biệt.

 

1.2. Chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại

Pháp nhân thương mại được coi là chủ thể của tội phạm khi có đủ các điều kiện sau: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Theo đó, năng lực trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Điều kiện để một tổ chức được công nhận là một pháp nhân thương mại theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 khi có đầy đủ các điều kiện như sau:

+ Được thành lập hợp pháp tại cơ quan có thẩm quyền và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;

+ Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

+ Có cơ cấu tổ chức, có cơ quan điều hành. Mọi hoạt động của doanh nghiệp sẽ dựa theo quy chế và điều lệ công ty. Trong đó quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng chức danh.

+ Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tiến nhân danh công ty thực hiện ký kết các giao dịch kinh tế hoặc làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định rõ pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác được thành lập hợp pháp chính là những pháp nhân thương mại và việc hoạt động, chấm dứt, pháp nhân pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Căn cứ vào Điều 74 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, ta thấy pháp luật cũng đưa ra quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

Điều 74. Áp dụng quy định của Bộ luật hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này.

Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại xuất hiện từ thời điểm pháp nhân này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận tư cách pháp nhân tức là ngày giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được cấp.

- Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cũng có nêu lên các điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại là khi:

+ Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

+ Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

+ Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

+ Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định thời hiệu, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới và mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới. Nếu trong thời hạn quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ. Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.

 

2. Ý nghĩa của chủ thể của tội phạm là gì?

Nghiên cứu về chủ thể của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Để truy cứu trách nhiệm hình sự của một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì người đó phải có đủ các dấu hiệu được quy định trong chủ thể của tội phạm.

Ngoài ra, ta thấy chủ thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố của cấu thành tội phạm. Do đó, ý nghĩa của chủ thể của cấu thành tội phạm cũng chính là ý nghĩa của chủ thể tội phạm. Theo đó:

- Cấu thành tội phạm là một trong những điều kiện quan trọng nhất để định tội danh chính xác. Nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể nào không có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự thì không thể đặt ra vấn đề định tội danh.

- Cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý cần và đủ để truy cứu trách nhiệm người phạm tội. Các cơ quan tư pháp hình sự khi có đầy đủ cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội. Việc xác định đã có tội phạm được thực hiện chỉ có ý nghĩa khi hành vi nguy hiểm cho xã hội của chủ thể có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm tương ứng.

- Cấu thành tội phạm là căn cứ để người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn đúng loại và mức hình phạt đối với người thực hiện hành vi phạm tội.

- Cấu thành tội phạm là yếu tố để đảm bảo cho các quyền con người và tự do của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự đồng thời hỗ trợ việc tuân thủ pháp luật và củng cố trật tự pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê. Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu cần hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua Email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.