1. Chưa đăng ký kết hôn nhưng vợ ngoại tình thì có kiện được không ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có một trường hợp như sau, mong luật sư giải đáp giúp tôi. Tôi và vợ mới cưới nhau mà chưa kịp đăng ký kết hôn (chưa có giấy kết hôn). Vợ tôi đang học ở một trường đại học. Tôi mới phát hiện ra vợ tôi và một giảng viên A có quan hệ với nhau. Chứng cứ tôi lưu lại là tin nhắn zalo của hai người. Cuộc trò chuyện là nhắn tin tình cảm và hẹn đi nhà nghỉ.

Hỏi:

1/ Tôi có đủ chứng cứ để kiện ông Giảng viên A được không? Nếu kiện thì thủ tục như thế nào? Và gửi cho ai?

2/ Tôi chưa kịp đăng ký kết hôn thì có bị vi phạm gì không? Có đi kiện Giảng viên A được không? Ông giảng viên A có bị đi tù không?

3/ Nếu tôi dùng chứng cứ Zalo đó, chụp hình lại rồi đăng lên mạng thì tôi có bị gì không?

4/ Tôi muốn ly dị thì có cần ra tòa không (chưa có giấy đăng ký kết hôn)? Nếu tôi bỏ vợ mà vợ tự tử chết thì tôi có bị gì không (tôi không xúc phạm gì hết, do cô ấy chịu không nỗi dư luận xã hội)?

Có vài vấn đề nhờ Công ty tư vấn dùm. Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Có được kiện giảng viên A không ?

Khoản 2, điều 5, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình như sau:

2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.”

Đồng thời, khoản 1, điều 9, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về đăng ký kết hôn như sau:

“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”

Theo căn cứ trên, việc bạn và vợ của bạn chưa đăng ký kết hôn mà mới chỉ tổ chức đám cưới thôi thì chưa có giá trị pháp lý. Và việc người giảng viên A và vợ bạn có quan hệ tình cảm với nhau cũng không nằm trong các điều cấm mà pháp luật quy định nên bạn không thể kiện người giảng viên A đó được.

2. Chưa đăng ký kết hôn có vi phạm pháp luật không ?

Căn cứ điều 8, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về những điều cấm. Theo đó, việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý. Như vậy, pháp luật chỉ thừa nhận hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn. Pháp luật hiện hành không có quy định nào là phải có giấy chứng nhận kết hôn rồi mới được tổ chức đám cưới. Có nghĩa là việc các bạn tổ chức đám cưới không vi phạm điều cấm nên không bị coi là vi phạm để xử phạt. Để được công nhận là hôn nhân hợp pháp, thì 2 bạn cần đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

3. Đăng tin nhắn của người khác lên mạng xã hội có vi phạm pháp luật không?

Điều 38, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bí mật đời tư như sau:

“Điều 38. Quyền bí mật đời tư

1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”

Dựa vào căn cứ trên ta thấy, nếu bạn phát tán tin nhắn trên zalo của vợ bạn và người giảng viên A lên mạng xã hội, thì bạn đã xâm phạm đến quyền nhân thân của họ. Theo đó thì điểm g, khoản 3, điều 66, Nghị định số 174/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện như sau:

“3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;”

Theo quy định trên thì hành vi của bạn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng vì đã xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác.

4. Chưa đăng ký kết hôn có phải ly hôn tại tòa không?

Điều 9, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:

“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”

của người khác;”

Như vậy thì việc 2 bạn chưa đăng ký kết hôn thì không phải ly hôn tại tòa.

Nếu vợ bạn cô ấy tự tử vì dư luận thì bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ:

Khoản 1, điều 130 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội bức tử:

“1. Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Khoản 1, Điều 131 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng của họ;

b) Tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho người khác tự tước đoạt tính mạng của họ.”

Như vậy nếu bạn không đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục, không kích động, dụ dỗ, thúc đẩy, tạo điều kiện vật chất hoặc tình thần để cô ấy tự sát thì bạn sẽ không vi phạm pháp luật.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo quy định mới 2021

2. Khai sinh cho con như thế nào khi chưa đăng ký kết hôn ?

Thưa Luật sư, cho em hỏi: nếu em lấy chồng mà không đi đăng kí kết hôn thì con chung của chúng em sau này có quyền được mang họ bố không ạ? Và lúc làm giấy khai sinh có gặp khó khăn gì về thủ tục pháp lý không?
Em xin cảm ơn !

Đăng kí khai sinh cho con theo họ bố khi chưa đăng ký kết hôn

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Như thông tin bạn cung cấp thì hai bạn chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn. Như vậy để khai sinh cho con bạn cần làm thủ tục theo quy định tại Điều 16 Luật Hộ tịch năm 2014 như sau

1. Người đi đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn).

Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.

2. Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.

3. Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

Trong trường hợp này hai bạn chưa có Đăng ký kết hôn nhưng nếu cả hai nhận con thì trong giấy khai sinh sẽ ghi cả tên bố và mẹ khi đó "chồng" bạn cần làm Tờ khai nhận con (có sự đồng ý của bạn). Theo đó, lúc này, bạn và chồng bạn thực hiện đồng thời cả thủ tục khai sinh cho con và thủ tục nhận cha cho con như sau:

Thủ tục nhận con thì Điều 25 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định như sau:

"Điều 25. Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con

1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt

2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc."

Theo đó, cùng với việc nộp tờ khai, bạn và chồng bạn phải cung cấp được chứng cứ chứng minh quan hệ cha con lúc này, Theo quy định tại Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP thì chứng cứ chứng minh quan hệ cha con bao gồm:

1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.
Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục đăng ký khai sinh cho con khi bố mẹ chưa đăng ký kết hôn?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòngđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Vợ ngoại tình thì bị xử phạt như thế nào ? Nghi ngờ vợ ngoại tình có ly hôn được không ?

3. Có đăng ký khai sinh cho con theo họ bố khi chưa đăng ký kết hôn ?

Luật sư cho em hỏi: Em chưa đăng kí kết hôn nhưng có con trước. Em sinh được 1 tháng. Giờ em muốn làm giấy khai sinh cho em bé mang họ cha và vào hộ khẩu cha được không ? Bố em bé có hộ khẩu tại tỉnh Bạc Liêu ?
Xin luật sư hướng dẫn, cảm ơn nhiều!
- M.N.T

Luật sư trả lời:

Thứ nhất về trách nhiệm đăng kí khai sinh được quy định chi tiết trong Luật hộ tịch năm 2014 như sau:

" Điều 15. Trách nhiệm đăng ký khai sinh

1. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em.

2. Công chức tư pháp - hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc đăng ký khai sinh cho trẻ em trên địa bàn trong thời hạn quy định; trường hợp cần thiết thì thực hiện đăng ký khai sinh lưu động."

Theo đó mọi đứa trẻ sau khi sinh ra đều có quyền được đăng kí khai sinh, đối với trường hợp của bạn chưa đăng kí kết hôn thì vẫn phải có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con.

Thứ hai về thẩm quyền đăng kí khai sinh được quy định trong luật hộ tịch 2014 như sau:

" Điều 13. Thẩm quyền đăng ký khai sinh

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh."

Theo đó hiện nay có thể thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho con ở cả nơi người cha cư trú hoặc nơi người mẹ cư trú, như vậy đối với trường hợp mà sau khi kết hôn mà người vợ chưa chuyển khẩu về nhà chồng thì vẫn có thể mang họ người chồng và đăng ký khai sinh ở nơi đăng ký thường trú của người chồng.

Thứ ba về hồ sơ đăng ký khai sinh:

- Tờ khai đăng ký khai sinh

- Giấy chứng sinh

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn( nếu đã đăng ký kết hôn)

Đối với trường hợp chưa đăng ký kết hôn thì trên giấy khai sinh của cháu chỉ có tên của người mẹ nếu muốn có tên cha trong giấy khai sinh thì phải làm thủ tục xác nhận quan hệ cha con và thủ tục đăng ký khai sinh cùng một lúc theo quy định sau:

" Điều 12. Kết hợp giải quyết việc đăng ký khai sinh và nhận cha, mẹ, con

Khi đăng ký khai sinh cho trẻ em mà có người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con thì cơ quan đăng ký hộ tịch kết hợp giải quyết thủ tục đăng ký khai sinh và thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau:

1. Hồ sơ gồm:

a) Tờ khai đăng ký khai sinh và Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định;

b) Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay Giấy chứng sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật hộ tịch;

c) Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 11 của Thông tư này.

2. Các giấy tờ khác, trình tự giải quyết được thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 16 và Điều 25 của Luật hộ tịch trong trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã; theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 36 và Điều 44 của Luật hộ tịch trong trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Nội dung đăng ký khai sinh xác định theo quy định tại Điều 4 của Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn luật hộ tịch. Giấy khai sinh và Trích lục đăng ký nhận cha, mẹ, con được cấp đồng thời cho người yêu cầu.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 thì có quyền với tài sản chung không ?

4. Hỏi về vấn đề hôn nhân không đăng ký kết hôn ?

Thưa luật sư, Em có câu hỏi muốn luật sư tư vấn giúp, Năm nay Em 36 tuổi. Năm 1999 Em có lấy chồng được hai bên gia đình đồng ý nhưng Em chưa đăng ký kết hôn. Đến tháng 4 năm 1999 Em cắt khẩu về nhà chồng đến tháng 6 năm 2000. Em sinh cháu trai Và làm được giấy khai sinh mang họ Bố. Đến tháng 7 năm 2005 Em làm được chứng minh thư, đến tháng 06 năm 2010 chúng Em chia tay nhau. Và đến tháng 06 năm 2011 Em cắt khẩu bên chồng về bên Mẹ đẻ. Tháng 02 năm 2012 thì chồng Em đã đi bước nữa và cũng đã làm được đăng ký kết hôn.

Tháng 03 năm 2015 Em có ra phường nói Em đang thường trú xin giấy giới thiệu để đăng ký kết hôn thì cán bộ phường trà lời từ năm 1999 đến năm 2011 phường không trực tiếp quản lý Em. Nếu muốn có giấy giới thiệu đăng ký kết hôn phải sang địa phương nơi Em cưu trú từ năm 1999 đến năm 2011 để xác minh Em chưa đăng ký kết hôn lần nào.

Nhưng khi Em sang địa phương cũ xin họ không cho Em giấy xác minh và gây khó dễ và nói không đăng ký kết hôn từ năm 2007 trở về đây không phải ra tòa, còn từ năm 2007 trở về trước là phải ra tòa. Cán bộ phường Em thì lý do bận việc nói chưa có thời gian để xác minh cho Em.

Vậy Em sai ở đâu mà không xin được giấy chứng nhận độc thân và các cán bộ tư pháp đòi hỏi Em phải có giấy ly hôn vì trước năm 2007 sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn cũng phải ly hôn là đúng hay sai ? Và cấp giấy chứng nhận chưa đăng ký kết hôn cho Em là công việc của ai mà không cấp và giải quyết cho Em ?

Em rất mong luật sư trả lời cho Em, Em xin cảm ơn luật sư nhiều!

Hỏi về vấn đề hôn nhân không đăng ký kết hôn ?

Tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn chị đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất, Theo Mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình có quy định như sau:...

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;

c) Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Toà án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết".

Như vậy, việc cán bộ tư pháp đòi chị giấy ly hôn với lý do trước năm 2007 sống với nhau không đăng ký kết hôn thì cũng phải ly hôn là trái quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật thì anh, chị không được công nhận là vợ chồng nên không ly hôn.

Thứ hai, theo quy định tại Điều 16 Nghị định 123/2015/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của chị sẽ xác nhận tình trạng hôn nhân của chị

Điều 18. Đăng ký kết hôn

1. Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam thường trú tại địa bàn xã đó với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương cấp xã của Việt Nam tiếp giáp với xã ở khu vực biên giới của Việt Nam nơi công dân Việt Nam thường trú.

2. Người yêu cầu đăng ký kết hôn xuất trình giấy tờ theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Nghị định này; trực tiếp nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, hồ sơ đăng ký kết hôn gồm các giấy tờ sau đây:a) Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định; hai bên nam, nữ có thể sử dụng 01 Tờ khai chung;b) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước láng giềng cấp không quá 6 tháng tính đến ngày nhận hồ sơ xác nhận công dân nước láng giềng hiện tại là người không có vợ hoặc không có chồng;c) Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân quyết định. Trường hợp cần xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 08 ngày làm việc.Nếu hai bên nam, nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ký Giấy chứng nhận kết hôn, công chức tư pháp - hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký, ghi rõ họ tên trong Sổ hộ tịch, Giấy chứng nhận kết hôn; mỗi bên vợ, chồng được cấp 01 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

Chị có thể đưa ra các quy định của pháp luật nói trên để Cán Bộ tư pháp cấp giấy chứng nhận về tình trạng hôn nhân cho chị.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của chị. Rất cảm ơn chị đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bố ngoại tình thì mẹ có được chia toàn bộ tài sản sau ly hôn không ?

5. Mẹ nuôi con từ nhỏ mà chưa kết hôn thì bên nhà nội có quyền bắt con không ?

Chào luật sư, Tôi có 1 vài khúc mắt nhờ luật sư tư vấn giúp. Tôi và cha của con tôi chưa đăng kí kết hôn nhưng đã làm giấy khai sinh cho bé có cả tên cha và mẹ. Lúc bé được 6 tháng tôi và cha bé không ở chung nữa. Bây giờ bé được 11 tháng. Cha bé sắp lấy vợ. Gia đình bên nội 1 tháng sang thăm cháu 1 lần và đem được 2 hộp sữa , ngoài ra không có thêm bất cứ sự trợ cấp nào. Giấy khai sinh của bé cha bé vẫn giữ. Tôi muốn hỏi liệu sau này bên cha bé và nhà mạng nội có bắt bé được không. Vì nhà bên đó có điều kiện hơn. Còn bên tôi thì phải ở nhà trọ thu nhập cũng chỉ được 5 tiệu 1 tháng.
Nếu lấy được giấy khai sinh thì tôi có thể bỏ tên cha bé và làm lại giấy khai sinh cho bé thành con ngoài giá thú không ?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư trả lời:

Cảm ơn Qúy khách hàng đã gửi câu hỏi dến Luật Minh Khuê với nội dung khách hàng yêu cầu, chúng tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất: Nhà nội có bắt bé được không khi mà bố mẹ không có đăng ký kết hôn ,nhưng khai sinh cả cha và mẹ cho bé?

Căn cứ theo quy định Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Như vậy trường hợp năm, nữ có con chung mà không đăng ký kết hôn việc giải quyết nghĩa vụ của cha mẹ và con cái được giải quyết theo quy định của Luật này và những văn bản hướng đãn. Cụ thể khi có tranh chấp về nuôi con sẽ được sử lý như quy định của Luật hôn nhân và gia đình như đối với trường hợp ly hôn cụ thể:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy nếu con dưới 36 tháng tuổi thì quyền nuôi con sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không có đủ điều kiện, trường hợp con lớn hơn 36 tháng tuổi thì tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con để quyết định giao con cho một bên nuôi dưỡng trực tiếp, con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét đến nguyện vọng của con.

Thứ hai: Có làm lại giấy khai sinh cho bé thành con ngoài giá thú không?

Căn cứ theo quy định của Luật hộ tịch năm 2014

Điều 26. Phạm vi thay đổi hộ tịch

1. Thay đổi họ, chữ đệm và tên cửa cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi co căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự

2. Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi.

Như vậy việc thay đổi hộ tịch chỉ được thực hiện theo các căn cứ là: Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật; hoặc thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi mà không thể thay đổi giấy khai sinh cho con từ có cha sang không có cha. trừ có căn cứ theo quyết định bản án của tòa về việc không công nhận cha con.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mức xử phạt hành vi đã kết hôn mà chung sống như vợ chồng với người khác ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thời gian giải quyết đăng ký kết hôn?

Trả lời:

Ngay trong ngày tiếp nhận hồ sơ trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo.Trường hợp cần xác minh điều kiện kết hôn của hai bên nam, nữ thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc.

Câu hỏi: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xin ở đâu?

Trả lời:

Ủy ban nhân dân nơi đăng ký thường trú là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Câu hỏi: Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân xin ở đâu khi có nhiều nơi thường trú?

Trả lời:

Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký thường trúlà cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Nếu người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau thì người đó phải đến những nơi đã từng đăng ký thường trú để xin xác nhận tình trạng hôn nhân.