1. Khái niệm về chuẩn mực tôn giáo  

Một tôn giáo được thừa nhận là dòng tôn giáo thực sự khi nó có giáo chủ, giáo hội, giáo dân và giáo lý.

Giáo chủ trong tôn giáo là một lực lượng siêu tự nhiên, có quyền năng, sức mạnh siêu phàm, được con người “thần thánh hóa”, tôn thờ, trở thành “linh thiêng” và tác động trở lại tới niềm tin của con người. Ph. Ăngghen viết:

“Tất cả các tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ảnh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chỉ phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”

Giáo chủ trong Thiên Chúa giáo là Chúa Jesus; trong Phật giáo là Phật tổ Thích ca mâu ni;  

Như vậy, chuẩn mực tôn giáo là hệ thống các quy tắc, yêu cầu được xác lập dựa trên những tín điều, giáo lý tôn giáo, những quy ước về lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo cùng với các thiết chế tôn giáo (nhà thờ, chùa chiền, thánh đường), được ghi chép và thế hiện trong các bộ sách kinh điển của các dòng tôn giảo khác nhau.

 

2. Các đặc điểm của chuẩn mực tôn giáo

Chuẩn mực tôn giáo là loại chuẩn mực xã hội thành văn. Tính chất thành văn của chuẩn mực tôn giáo thể hiện ở các giáo điều, giáo lý, những lời răn dạy được ghi chép trong các bộ kinh của các tôn giáo khác nhau, như Kinh Thánh (của Thiên Chúa giáo), Kinh Phật (của Phật giáo) hoặc Kinh Coran (của Hồi giáo). Ví dụ, giáo lý nhà Phật yêu cầu người xuất gia vào tu hành trong chùa phải tuyệt đối tuân theo “ngũ giới” (năm điều cấm), bao gồm không sát sinh, không nói dối, không trộm cắp, không tà dâm và không uống rượu. “Ngũ giới” được ghi trong Kinh Phật, thể hiện tính chất thành văn của chuẩn mực tôn giáo.

Chuẩn mực tôn giáo được hình thành xuất phát từ niềm tin thiêng liêng, sâu sắc của con người vào sức mạnh thần bí của các lực lượng siêu tự nhiên như Thượng đế, Đức Phật, Chúa Trời... Chừng nào trong tự nhiên, trong xã hội vẫn còn tồn tại những sự việc, sự kiện hay hiện tượng có tính chất thần kì, bí ẩn mà khoa học hiện đại chưa thể giải thích, làm sáng tỏ nguồn gốc, nguyên nhân hay bản chất của chúng, thì khi đó tôn giáo và chuẩn mực tôn giáo vẫn tồn tại, vẫn có tác động nhất định tói đời sống tâm linh của con người. Theo quan điểm mácxít, thần linh”. Vì sợ bị trừng phạt, phải xuống địa ngục thay vì lên thiên đường, bị “quả báo” thay vì vào cõi “niết bàn” nên con người không dám làm điều ác, không dám phạm vào các điều cấm, điều răn của chuẩn mực tôn giáo. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, dù không có một sức mạnh cưỡng bức nào thì các chuẩn mực tôn giáo vẫn được con người tuân thủ một cách tự nguyện, tự giác, vô điều kiện.

Chuẩn mực tôn giáo có những tác động tích cực và cả những tác động tiêu cực tới nhận thức, hành vi của con người. Những tác động tích cực thể hiện ở chỗ, chuẩn mực tôn giáo đề cao tính thiện, phê phán tính ác, định hướng cho hành vi xã hội của con người. Một số chuẩn mực của Thiên Chúa giáo mang tính nhân văn sâu sắc: đề cao tình yêu thương giữa con người với nhau, tôn trọng mọi giá trị của tín đồ, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, hướng các cá nhân tới điều thiện. Phật giáo khuyên con người sống “từ bi”, gần gũi cái thiện, tránh xa cái ác. Chuẩn mực Hồi giáo khuyên con người luôn giữ vị trí của mình, bố thí cho kẻ nghèo hèn... Ngược lại, chuẩn mực tôn giáo khi bị hiểu và vận dụng một cách cực đoan, có thể gây ra những tác động tiêu cực, như dễ làm phát sinh nạn cuồng tín, tệ phân biệt chủng tộc, sự kì thị dân tộc; nỏ có thể ru ngủ, làm tê liệt ý chí của con người trước những bất công xã hội nơi trần thế. Trong lịch sử xã hội, khía cạnh này của chuẩn mực tôn giáo thường được các giai cấp thống trị sử dụng như một thứ công cụ áp bức tinh thần, một phương tiện củng cố địa vị thống trị của họ. Quyền đó được Nhà nước tôn trọng, ghi nhận trong Hiến pháp và được pháp luật bảo đảm, bảo vệ.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định:

“Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đổng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Phát huy những giả trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sổng “tốt đời, đẹp đạo ”. Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ” - Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.

Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng cương quyết trừng trị nghiêm khắc các hành vi đội lốt tôn giáo để thực hiện các âm mưu chính trị đen tối, gây rối, bạo loạn, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; trừng trị nghiêm khắc các hành vi lợi dụng niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng trong nhân dân để hành nghề mê tín dị đoan, gây hậu quả nghiêm trọng. Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của con người... là một trong những nhiệm vụ quan trọng ửong tình hình mới.

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau"; "Cấm việc lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi” - Điều 5 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.

Luật Minh Khuê (tổng hợp)