1. Có bằng thạc sĩ kinh tế có được làm đấu giá viên hay không?
Có quy định tại Điều 10 của Luật Đấu giá Tài sản 2016 về các điều kiện cần phải đáp ứng để trở thành một đấu giá viên:
- Là công dân Việt Nam cư trú thường trú tại đất nước này, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, và có phẩm chất đạo đức tốt;
- Sở hữu văn bằng đại học trở lên thuộc một trong những ngành như Luật, Kinh tế, Kế toán, Tài chính, hoặc Ngân hàng;
- Hoàn thành khóa đào tạo đấu giá theo quy định tại Điều 11 của Luật Đấu giá Tài sản 2016, trừ khi được miễn khóa đào tạo theo quy định tại Điều 12 của cùng luật;
- Đạt được yêu cầu kiểm tra kết quả thực hành của tập sự đấu giá.
Như vậy, việc sở hữu bằng thạc sĩ kinh tế chỉ đáp ứng một trong tứ tiêu chuẩn nêu trên, đó là "Sở hữu văn bằng đại học trở lên thuộc một trong những ngành như Luật, Kinh tế, Kế toán, Tài chính, hoặc Ngân hàng". Do đó, để trở thành đấu giá viên, ngoài việc có bằng thạc sĩ kinh tế, cần phải đáp ứng ba tiêu chuẩn còn lại để được xem xét theo trình tự pháp luật.
2. Những hành vi bị xử lý vi phạm hành chính đối với đấu giá viên
Theo Điều 22 của Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/07/2020, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, có đề cập đến 06 nhóm hành vi vi phạm của đấu giá viên cùng với mức phạt tiền tương ứng như sau:
- Mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng áp dụng cho hành vi không đeo thẻ đấu giá viên khi tham gia điều hành cuộc đấu giá tài sản.
- Mức phạt từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng được áp dụng cho một trong các hành vi sau đây:
+ Tẩy xoá, sửa đổi làm sai lệch nội dung chứng chỉ nghề đấu giá, thẻ đấu giá viên;
+ Thỏa thuận trái pháp luật với cá nhân, cơ quan tổ chức có thẩm quyền liên quan trong hoạt động đấu giá tài sản làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, trừ trường hợp quy định tại các điểm a, b và d của Khoản 7 Điều này;
+ Biết nhưng không ngăn chặn người tập sự hành nghề đấu giá do mình hướng dẫn chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật về đấu giá tài sản trong quá trình tập sự tại tổ chức đấu giá tài sản đó.
- Mức phạt từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng được áp dụng cho một trong những hành vi sau đây:
+ Không ngừng cuộc đấu giá khi có yêu cầu từ bên có tài sản về việc đấu giá viên có hành vi thông đồng, kết hợp để làm sai lệch thông tin về tài sản đấu giá, làm giảm giá, hoặc biến tướng nội dung hồ sơ đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản;
+ Không dừng cuộc đấu giá khi có yêu cầu từ bên có tài sản về việc phát hiện người tham gia đấu giá có hành vi thông đồng, kết hợp để làm giảm giá, làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản; cản trở hoạt động đấu giá tài sản; gây rối, làm mất trật tự tại cuộc đấu giá; đe dọa, cưỡng ép đấu giá viên, người tham gia đấu giá để làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản;
+ Không tước quyền tham gia cuộc đấu giá khi phát hiện có hành vi cung cấp thông tin sai sự thật; sử dụng giấy tờ giả để đăng ký tham gia đấu giá, tham gia cuộc đấu giá; thông đồng, kết hợp để giảm giá, làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản; cản trở hoạt động đấu giá tài sản; gây rối, làm mất trật tự tại cuộc đấu giá; đe dọa, cưỡng ép đấu giá viên, người tham gia đấu giá để làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản;
+ Không tước quyền tham dự cuộc đấu giá khi người trả giá cao nhất rút lại giá đã trả hoặc người chấp nhận giá rút lại giá đã chấp nhận trước khi đấu giá viên công bố người trúng đấu giá;
+ Gián tiếp điều hành cuộc đấu giá nhưng vẫn ký biên bản đấu giá;
+ Hạn chế người tham gia đấu giá trong quá trình tham gia đấu giá;
+ Điều phối cuộc đấu giá không đúng hình thức đấu giá, phương thức đấu giá theo quy chế đã ban hành;
+ Điều phối cuộc đấu giá trong trường hợp chỉ có một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá không đúng quy định;
+ Tự quy định bước giá hoặc điều hành cuộc đấu giá không tuân theo bước giá đã công bố.
- Mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng được áp dụng cho hành vi cho phép người khác sử dụng chứng chỉ nghề đấu giá, thẻ đấu giá viên để thực hiện hoạt động đấu giá.
- Mức phạt từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng áp dụng cho một trong những hành vi sau:
+ Sử dụng thẻ đấu giá viên của người khác để điều hành cuộc đấu giá;
+ Tham gia điều hành cuộc đấu giá mà không phải là đấu giá viên, trừ khi có quy định pháp luật khác;
+ Công bố sai người chiến thắng đấu giá;
+ Công bố sai giá mà người tham gia đấu giá trả.
- Mức phạt từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng áp dụng cho một trong những hành vi sau:
+ Điều hành cuộc đấu giá cho một tổ chức không phải là tổ chức mà đấu giá viên đã đăng ký hành nghề hoặc một tổ chức mà Chính phủ sở hữu 100% vốn điều lệ để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng hoặc hội đồng đấu giá tài sản;
+ Lợi dụng danh nghĩa của đấu giá viên để thu lợi bất chính.
Ngoài 06 hành vi bị phạt hành chính như trên, đấu giá viên sẽ bị tước quyền sử dụng chứng chỉ nghề đấu giá từ 09 tháng đến 12 tháng đối với một trong những hành vi sau:
- Lập danh sách giả mạo người đăng ký tham gia đấu giá hoặc lập hồ sơ giả mạo hoặc giả mạo để tham gia đấu giá mà chưa chịu trách nhiệm hình sự;
- Tham gia thông đồng để làm giảm giá hoặc tăng giá trong hoạt động đấu giá mà chưa chịu trách nhiệm hình sự;
- Đồng thời hoạt động tại hai tổ chức đấu giá tài sản trở lên hoặc làm việc như một công chứng hoặc nhận phát lại;
- Cho phép người không đủ điều kiện tham gia đấu giá tài sản tham gia cuộc đấu giá.
Tùy thuộc vào tính chất, mức độ của từng hành vi, mức phạt tiền cụ thể sẽ được áp dụng, cùng với các biện pháp xử phạt bổ sung và khắc phục hậu quả.
3. Những trường hợp không được cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá
Theo quy định của Điều 15 Luật Đấu giá Tài sản 2016, có 05 trường hợp không được cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá bao gồm:
- Thiếu một trong các tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này.
- Bao gồm các đối tượng như sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ, công chức, viên chức, trừ trường hợp là công chức, viên chức được đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá để làm việc cho Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.
- Gặp phải tình trạng mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; gặp khó khăn trong nhận thức và kiểm soát hành vi.
- Bị truy cứu trách nhiệm hình sự; bị kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích; đã bị kết án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các tội về tham nhũng kể cả trường hợp đã được xóa án tích.
- Bị thực hiện biện pháp xử lý hành chính, bao gồm việc bắt buộc tham gia cơ sở cai nghiện hoặc cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Do đó, để được cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá, cá nhân không được thuộc các trường hợp nêu trên.
Bài viết liên quan: Người đã được cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá viên sẽ bị thu hồi chứng chỉ trong những trường hợp nào?
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Có bằng thạc sĩ kinh tế có được làm đấu giá viên hay không? Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!