- 1. Cơ sở pháp lý của phân loại tội phạm
- 2. Xác định tội danh và khung hình phạt của người phạm tội?
- 3. Trường hợp ông A và ông B (làng bên cạnh) có cùng chia và câu kết với nhau việc trồng cần sa
- 4. Xác định tội danh và hình phạt của Y theo Bộ luât hình sự hiện hành?
- 5. Loại tội phạm mà Y phải chịu trách nhiệm là thuộc loại nào?
1. Cơ sở pháp lý của phân loại tội phạm
Theo Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đưa ra khái niệm về tội phạm như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Vậy đặc điểm đầu tiên của tội phạm là "hành vi nguy hiểm cho xã hội". Đối với những hành vi có đầy đủ dấu hiệu của tội phạm (04 yếu tố cấu thành tội phạm) nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không bị coi là tội phạm và sẽ bị xử lý bằng các biện pháp khác (Ví dụ: xử lý vi phạm hành chính, ...).
- Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), theo đó Điều luật quy định như sau:
"Điều 9. Phân loại tội phạm
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:
1. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
2. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;
3. Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;
4. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình."
Mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội đã được cụ thể hoá ở từng loại tôi, đó là: Tôi ít nghiêm trọng; tội nghiêm trọng; tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng. Tương ứng và phù hợp với bốn mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội đã được phân hoá thì có bốn mức độ cao nhất của khung hình phạt được nêu ra: phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm; phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm tù; phạt tù từ trên 07 năm đến 15 năm tù và phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Theo Điều 9 Bộ luât hình sự, căn cứ phân loại tội phạm sẽ được căn cứ ở hai dấu hiệu “tính chất và mức độ nguy hiếm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đó chính là mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội. Theo Điều 9 của Bộ luật tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được chia thành 4 mức khác nhau và mỗi mức tương ứng với một loại (nhóm) tội phạm. Các loại (nhóm) tội phạm được phân biệt với nhau bởi dấu hiệu về nội dung và dấu hiệu về hậu quả pháp lý. Nếu như tội phạm nói chung có dấu hiệu về nội dung là tính nguy hiểm cho xã hội và dấu hiệu về hậu quả pháp lý là tính phải chịu hình phạt thì các loại (nhóm) tội phạm cũng có những dấu hiệu đó, vì đều là tội phạm nhưng với những nội dung cụ thể khác nhau.
Trong hai dấu hiệu phân biệt 4 loại (nhóm) tội phạm này với nhau, ta thấy dấu hiệu về nội dung (tính chất) quyết định dấu hiệu về hậu quả pháp lý (mức độ của khung hình phạt). Sự xác định dấu hiệu về hậu quả pháp lý thể hiện ở mức cao nhất của khung hình phạt này chỉ là kết quả đánh giá chủ quan của cơ quan xây dựng luật về sự cần thiết phải áp dụng các mức hình phạt khác nhau đó đối với những hành vi phạm tội có tính nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Nhưng một khi đẫ đuọc các nhà làm luật xác định khung hình phạt, khung hình phạt trở thành dấu hiệu có tính độc lập tương đối để phân biệt các loại tội phạm với nhau đã được quy định mà không phụ thuộc vào mức hình phạt cụ thể được áp dụng.
Vậy trong 02 dấu hiệu phân biệt giữa các loại tội phạm, dấu hiệu thứ nhất là tiêu chí để cơ quan xây dựng luật xem xét khi quy định các khung hình phạt và do vậy, dấu hiệu này có ý nghĩa đối với hoạt động lập pháp. Trong khi đó, dấu hiệu thứ hai là dấu hiệu để người áp dụng xác định tội phạm thuộc khung hình phạt được áp dụng là loại tội phạm gì theo phân loại tại Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và do vậy dấu hiệu này có ý nghĩa đối với hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan tư pháp nói riêng.
2. Xác định tội danh và khung hình phạt của người phạm tội?
Thưa Luật sư Công ty Luật Minh Khuê, anh (chị) có thể xác giúp em giải đáp tình huống này không ạ?
" Do không hiểu biết (không biết chữ) và sống ở vùng sâu, vùng xa ở làng X. Ông A đã trồng cây cần sa được 2 năm nay, số lượng cây cần sa ông A trồng là 1.000 cây trên hai mảnh đất của ông, mỗi mảnh đất là 500 cây để bán cho bọn thanh niên ăn chơi trong làng. Đến đầu năm nay (tức là năm 2021) vì tình hình dịch Covid đáng ghờm nên cơ quan điều tra ở khắp các tỉnh, huyện phải đi tuần tra và giám sát dân thì cơ quan điều tra mới phát hiện ra số lượng cây cần sa của ông A. Sau đó ông A đã bị bắt về đòn và kkhai nhận.
Em muốn hỏi:
1) Ông A phạm tội gì theo quy định của pháp luât hiện hành?
2) Ông A có phải ngồi tù bao nhiêu năm và đây là thuộc loại tội phạm gì ạ?
Em cảm ơn Luật sư rất nhiều!"
Trả lời:
Căn cứ pháp lý: Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
1) Xác định tội danh của Ông A
Thứ nhất, Hành vi của A cấu thành Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy theo quy định tại Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Theo đó, khoản 1 Điều 247 quy định như sau:
"Điều 247. Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy
1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã được giáo dục 02 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3.000 cây..."
Theo tình huống bạn cung cấp:
Thứ nhất, ông A đã trồng cây cần sa để bán cho thanh niên trong xóm, làng. Đây là loại cây theo quy định của pháp luật là cây có chứa chất ma túy ảnh hưởng đến sức khỏe của người dùng, người tiếp xúc và cấm người dân trồng dưới bất kỳ hình thức nào.
Thứ hai, số lượng cây cần sa ông A trồng là 1.000 cây và ông chia ra trồng ở hai mảnh đất nhà ông. Vậy theo điểm c khoản 1 Điều này cũng thích ứng với hành vi của ông A.
Vì vậy, ông A sẽ chịu trách nhiệm hình sự theo điểm C khoản 1 Điều 247 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
2) Khung hình phạt đối với hành vi của ông A là phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Bởi theo khoản 1 Điều luật này đã quy định: "Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm".
Với khung hình phạt này của A, A sẽ thuộc vào loại tội phạm ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật này. Bởi vì theo quy định tại Điều 9 Bộ luật quy định:
"Điều 9. Phân loại tội phạm
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:
1. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;..."
3. Trường hợp ông A và ông B (làng bên cạnh) có cùng chia và câu kết với nhau việc trồng cần sa
Ông A bị bắt ông mới khai rằng ngoài ông ra còn ông B (làng bên cạnh) có cùng chia và câu kết với nhau việc trồng cần sa (số lượng hơn 4.000 cây) thì xử lý như thế nào?
Theo khoản 2 Điều 247 quy định như sau:
"Điều 247. Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy ...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Với số lượng 3.000 cây trở lên;
c) Tái phạm nguy hiểm."
Nếu ông A và ông B cấu kết với nhau trồng cây cần sa với số lượng là 4.000 cây, vậy hai ông sẽ được coi là đồng phạm và bị xử phạt theo khoản 2 Điều luật này với mức hình phạt là phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
4. Xác định tội danh và hình phạt của Y theo Bộ luât hình sự hiện hành?
Thưa Luật sư, mình có một tình huống này muốn Luật sư tư vấn giúp mình.
Y và C xích mích với nhau từ lâu, Y là bồ của chồng C, đến tháng 12/2020 Y đã giết C và lúc đó C đã mang thai được 5 tháng, cả C và con trong bụng đêu không qua khỏi ạ.
Vậy em muốn hỏi Luật sư rằng: Y phải chịu tội gì và chịu bao nhiêu năm tù vậy ạ?
Em cảm ơn!
Trả lời:
Thứ nhất, xác định tội danh của Y
Hành vi của Y cấu thành Tội giết người tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
"Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;..."
Trong tình huống bạn cho, Y đã giết C vào tháng 12/20120 và lúc này C đã mang bầu 5 tháng trong bụng. Vậy trường hợp này Y có thể bị tăng nặng trách nhiệm hình sự và bị phạt tù phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình theo Bộ luật hình sự.
5. Loại tội phạm mà Y phải chịu trách nhiệm là thuộc loại nào?
Theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định gồm có 4 loại (nhóm) tội phạm như sau:
"Điều 9. Phân loại tội phạm
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:
1. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
2. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;
3. Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;
4. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình."
Khi phân loại tội phạm, nhà làm luật đã căn cứ vào hai dấu hiệu: tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội; khung hình phạt để phân ra 4 nhóm tôi phạm như trên. Như đã phân tích phần trước, Y giết C và C đang mang thai 5 tháng trong bụng. Y sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
So với khoản 3 và khoản 4 Điều 9 này Y có thể thuộc vào Tội phạm rất nghiêm trọng hoặc Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng tùy vào thực tế số năm Y phải ngồi tù cũng như chịu trách nhiệm hình sự.