1. Quy định chung về tội phạm qua các bộ luật hình sự

Tội phạm là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam. Do vậy, trong Bộ luật hình sự năm 1985 cũng như trong Bộ luật hình sự năm 1999, định nghĩa khái niệm tội phạm đều được đưa vào một trong những điều đầu tiên của Bộ luật hình sự. Các định nghĩa này đều nêu bật được 3 dấu hiệu phản ánh đặc điểm bên trong của hành vi bị coi là tội phạm. Đó là nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và được quy định trong bộ luật hình sự. Dấu hiệu phải chịu hình phạt là dấu hiệu phản ánh đặc điểm bên ngoài của hành vì bị cơi là tội phạm và được quy định bởi 3 dấu hiệu phản ánh đặc điểm bên trong của hành vi bị coi là tội phạm. Do vậy, định nghĩa tội phạm trong bộ luật không nêu dấu hiệu này.

Tội phạm, trước hết phải là hành vi của con người. Đây là nguyên tắc cơ bản của luật hình sự - Nguyên tắc hành vi. Theo đó, luật hình sự Việt Nam không truy cứu trách nhiệm hình sự con người về tư tưởng của họ mà chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi của con người khi hành vi đó thoả mãn các dấu hiệu được quy định trong luật.

Dấu hiệu “nguy hiểm cho xã hộ có nghĩa hành vi phải gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và người thực hiện hành vi gây thiệt hại đó phải có lỗi. Như vậy, tính nguy hiểm cho xã hội bao hàm tính gây thiệt hại về khách quan và tính có lỗi thuộc về chủ quan của tội phạm. Tuy nhiên, tính có lỗi được tách ra thành một dấu hiệu riêng của tội phạm nhằm nhấn mạnh nguyên tắc có lỗi trong luật hình sự. Hành vi gây thiệt hại bị coi là có lỗi nếu chủ thể đã lựa chọn, quyết định thực hiện hành vi đó khi có đủ điều kiện lựa chọn và quyết định xử sự khác không có hại cho xã hội. Luật hình sự đòi hỏi tội phạm phải có dấu hiệu này là nhằm đảm bảo mục đích giáo dục của trách nhiệm hình sự. Mục đích này chỉ có thể có khả năng đạt được khi áp dụng trách nhiệm hình sự cho người có lỗi.

Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại, tính chất và mức độ hậu quả, tính chất và mức độ lỗi, tính chất của động cơ, mục đích, tính chất của thủ đoạn, phương tiện cũng như hoàn cảnh thực hiện hành vi, các đặc điểm về nhân thân của chủ thể... Để đánh giá hành vi có tính nguy hiểm đáng kể của tội phạm q39 y hay không và nguy hiểm đến mức độ nào cần xem xét đánh giá tất cả các yếu tố này đặt trong mối liên hệ tổng hợp với nhau.

Dấu hiệu “được quy định trong luật hình sự đòi hỏi hành vi bị coi là tội phạm phải được quy định trong luật hình sự hay nói cách khác, chỉ hành vị được quy định trong luật hình sự mới có thể là tội phạm. Điều này cũng có nghĩa là cấm áp dụng nguyên tắc tương tự. Trong sự SO sánh với hai ga hiêu trên, dấu hiệu “được quy định trong luật hình sự là dấu hiệu mang tính hình thức pháp lí được quy định bởi dấu hiệu nội dung là tính nguy hiểm cho xã hội và tính có lỗi.

Khi đã thỏa mãn dấu hiệu nguy hiểm cho xã hội, dấu hiệu có lỗi và dấu hiệu được quy trong luật hình sự thì hành vi bị coi là tội phạm và có dấu hiệu thứ tư - bị đe dọa phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt.

Thể hiện nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật và để có cơ sở cá thể hóa hình phạt trong áp dụng, luật hình sự Việt Nam phân loại tội phạm thành bốn nhóm: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Sự phân loại thành bốn nhóm tội phạm một mặt, biểu hiện cơ bản của việc phân hóa trách nhiệm hình sự, mặt khác là cơ sở thống nhất cho sự phân hóa trách nhiệm hình sự qua các quy định khác... Sự phân loại này trong Bộ luật hình sự năm 1999 là sự thay đổi theo hướng phân hoá hơn so với Bộ luật hình sự năm 1985, trong đó tội phạm mới chỉ được phân thành hai nhóm là tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng.

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính gây nguy hại không lớn cho xã hội và do vậy mức cao nhất của khung hình phạt được quy định chỉ đến 3 năm tù,

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính gây nguy hại lớn cho xã hội và do vậy mức cao nhất của khung hình phạt được quy định đối với tội này là từ trên 3 năm tù đến 7 năm tù.

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính gây nguy hại rất lớn cho xã hội và do vậy mức cao nhất của khung hình phạt được quy định đối với tội này là từ trên 7 năm tù đến 15 năm tù.

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội và do vậy mức cao nhất của khung hình phạt được quy định là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình,

Cách phân loại tội phạm trên đây là cách phân loại dựa trên mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhằm mục đích tạo cơ sở thống nhất cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự trong luật. Ngoài cách phân loại này, còn có thể phân loại tôi phạm theo các tiêu chí khác. Ví dụ: căn cứ vào tính chất của lỗi có thể phân tội phạm thành tội cố ý và tội vô ý; căn cứ vào tính chất của khách thể bị xâm hại có thể phân tội phạm thành các nhóm tội khác nhau như các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm sở hữu, các tội xâm phạm nhân thân...; căn cứ vào đặc điểm cấu trúc của cấu thành tội phạm có thể phân tội phạm thành các tội có cấu thành tội phạm hình thức và các tội có cấu thành tội phạm vật chất;...

 

2. Tội phạm là gì?

Tội phạm là hiện tượng xã hội được nhiều ngành khoa học nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau. Khoa học luật hình sự nghiên cứu tội phạm dưới góc độ đặc điểm và cấu trúc của nó cũng như nghiên cứu sự phản ánh hiện tượng này trong luật. Các nội dung về tội phạm được trình bày trong chương này là: Khái niệm tội phạm (bao gồm định nghĩa khái niệm và các đặc điểm của tội phạm); phân loại tội phạm và phân biệt tội phạm với vi phạm. Trong đó, nội dung về phân loại tội phạm và về phân biệt tội phạm với vi phạm cũng nhằm mục đích làm rõ các đặc điểm của tội phạm.

>> Xem thêm: Khách thể của tội phạm là gì? Cho ví dụ khách thể của tội phạm

 

3. Định nghĩa về khái niệm tội phạm

Khái niệm tội phạm không chỉ được định nghĩa trong các tài liệu giảng dạy, nghiên cứu mà còn được định nghĩa ữong BLHS của nhiều quốc gia. Mỗi tài liệu cũng như mỗi BLHS có thể có cách định nghĩa riêng nhưng về cơ bản, các định nghĩa là thống nhất và có những điểm chung. Các định nghĩa đều xác định tội phạm là hành vi được quy định trong luật hình sự. Trên cơ sở xác định tội phạm là hành vi được luật hình sự quy định, có định nghĩa bổ sung đặc điểm giải thích tại sao hành vi lại được luật hình sự quy định. Đó là đặc điểm nguy hiểm cho xã hội và đặc điểm có lỗi (cố ý hoặc vô ý). Ngoài ra, có định nghĩa còn xác định đặc điểm của chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đó là đặc điểm “có năng lực TNHS”. về đậc điểm của chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có định nghĩa còn xác định thêm đặc điểm “đủ tuổi chịu TNHS” bên cạnh đặc điểm “có năng lực TNHS”. Tất cả các đặc điểm ttên đây đều là đặc điểm “bên trong” của tội phạm. Từ các đặc điểm “bên trong” đó, tội phạm có đặc điểm “bên ngoài” là tính “chịu hình phạt”. Do vậy, có định nghĩa còn xác định tội phạm có tính chịu hình phạt.

Điều 1 BLHS Thụy Điển định nghĩa: “Tội phạm ỉà hành vi được quỵ định trong Bộ luật này hoặc luật hoặc các văn bán pháp luật khác và bị áp dụng các hình phạt theo quy định cùa Luật này” (BLHS Thụy Điển, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2010);

Điều 14 BLHS Liên bang Nga định nghĩa: “Tội phạm là hành vi có lỗi gây nguy hiểm cho xã hội, bị cấm bởi BLHS này và phải chịu hình phạt” (BLHS Liên bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2011);

Điều 8 BLHS Việt Nam năm 1999 định nghĩa: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,...

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội định nghĩa: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý)” (Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2003, tr. 119);

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh định nghĩa: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, theo quy định pháp luật hình sự thì phải bị áp dụng hình phạt” (Nxb. Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, 2012, tr. 61).

Căn cứ theo quy định tại Điều 8 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 khái niệm tội phạm đượ cụ thể hóa như sau:

"Điều 8. Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác."

>> Tham khảo: Vi phạm hình sự là gì? Cho ví dụ tội phạm vi phạm hình sự

 

4. Phân tích đặc điểm (dấu hiệu) của tội phạm

Như vậy, các đặc điểm của hành vi bị coi là tội phạm được xác định trong các định nghĩa khác nhau về tội phạm có thể là:

- Đặc điểm nguy hiểm cho xã hội;

- Đặc điểm có lỗi (cố ý hoặc vô ý);

- Đặc điểm được quy định trong luật hình sự (trái pháp luật hình sự);

- Đặc điểm do người có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS thực hiện;

- Đặc điểm phải chịu hình phạt.

Từ nhận xét chung trên đây có thể đưa ra định nghĩa khái niệm tội phạm như sau:

Tội phạm là hành vi nguy hiếm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong luật hình sự, do người có năng lực TNHS thực hiện và phải chịu hình phạt.

Định nghĩa tội phạm trên đây có điểm khác cơ bản so với định nghĩa tội phạm tại Điều 8 BLHS năm 2015. Định nghĩa tội phạm trong BLHS xác định hai chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là người có năng lực TNHS và pháp nhân thương mại còn định nghĩa của giáo trình chỉ xác định người có năng lực TNHS là chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Điểm khác nhau này được giải thích trong mục tiếp theo.

 

5. Phân loại tội phạm

Theo Điều 9 Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 thì căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này mà tội phạm được phân làm 4 loại cụ thể như sau:

Điều 9. Phân loại tội phạm

1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

2. Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến các quy định của luật hình sự về tội phạm, hình phạt Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn. Trân trọng./.