- 1. Các khái niệm tội phạm
- 2. Tình hình tội phạm là gì? Tại sao cần nghiên cứu tình hình tội phạm
- 3. Khái niệm về hậu quả thiệt hại của tội phạm
- 4. Phân tích mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thiệt hại của tội phạm
- 5. Các dạng tồn tại của mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả của tội phạm
- 6. Nhiệm vụ của tội phạm học Việt nam trong tình hình mới
1. Các khái niệm tội phạm
Tội phạm là khái niệm pháp lí và là khái niệm khoa học. Khái niệm này dùng để chỉ tất cả những hành vi được luật hình sự quốc gia hoặc quốc tế xác định mà chủ thể thực hiện phải chịu biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt.
Tất cả những hành vi bị coi là tội phạm đều có cùng bản chất xă hội và những đặc điểm nhất định. Trước hết, tội phạm là hiện tượng xă hội tồn tại trong mọi quốc gia, được phản ánh trong luật hình sự vì trái với chuẩn mực xă hội ở mức cao nhất so với các hiện tượng lệch chuẩn khác. Nó là hiện tượng xă hội-pháp lí.
Tội phạm không chỉ là hiện tượng xă hội được phản ánh trong luật hình sự mà đồng thời cũng là hiện tượng xă hội được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu, trong đó có khoa học luật hình sự và tội phạm học. Khoa học luật hình sự và tội phạm học đều là khoa học về tội phạm. Tuy nhiên, khoa học luật hình sự và khoa học luật tố tụng hình sự là khoa học về tội phạm có tính pháp lí, còn tội phạm học và khoa học điều tra tội phạm là khoa học về tội phạm không có tính pháp lí hay nói cách khác là khoa học về tội phạm hiện thực.
Khoa học luật hình sự và tội phạm học tuy cùng nghiên cứu về tội phạm nhưng mỗi ngành đều có nội dung mục đích nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu riêng về đối tượng này. Theo đó, trong một số ngôn ngữ tồn tại hai khái niệm khác nhau được dùng trong hai ngành khoa học này.
Ví dụ: Trong tiếng Đức, khái niệm Kriminalität được dùng trong tội phạm học còn khái niệm Straftat được dùng trong luật hình sự
Trong tiếng Việt cũng như trong một số ngôn ngữ khác, chỉ có một khái niệm được dùng cả trong khoa học luật hình sự và tội phạm học. Khoa học luật hình sự nghiên cứu tội phạm theo nghĩa là nghiên cứu hiện tượng bị pháp luật coi là tội phạm ở các nội dung chính sau:
- Dấu hiệu (đặc điểm) chung của những hành vi bị coi là tội phạm (dấu hiệu về nội dung chính trị-xă hội, dấu hiệu về hình thức pháp lí);
- Cấu trúc chung của những hành vi bị coi là tội phạm (bốn yếu tố của tội phạm);
- Dấu hiệu và cấu trúc (bốn yếu tố cấu thành) của từng nhóm tội cũng như của từng loại tội phạm cụ thể;
- Kĩ thuật phản ánh tội phạm trong luật hình sự (cấu thành tội phạm)…
Với nội dung như vậy, khoa học luật hình sự phục vụ việc quy định tội phạm trong luật cũng như phục vụ việc giải thích và nhận thức luật để áp dụng. Qua đó, khoa học luật hình sự phục vụ nhiệm vụ truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội.
Tội phạm học nghiên cứu tội phạm theo nghĩa là nghiên cứu hiện tượng tội phạm đă xảy ra trên thực tế ở các nội dung chính sau:
– Tình hình tội phạm đă xảy ra;
– Nguyên nhân làm phát sinh tội phạm đă xảy ra;
– Biện pháp có thể hạn chế, phòng ngừa tội phạm…
Như vậy, khoa học luật hình sự và tội phạm học tuy cùng nghiên cứu về tội phạm nhưng theo hai nghĩa khác nhau. Do có sự khác nhau này mà ở một số quốc gia có hai khái niệm cùng có nghĩa tiếng Việt là tội phạm – một được sử dụng trong khoa học luật hình sự và một được sử dụng trong tội phạm học. Ở các quốc gia không có hai khái niệm khác nhau mà chỉ có một như Việt Nam, mọi người buộc phải hiểu khái niệm tội phạm theo hai nghĩa.
>> Xem thêm: Mẫu đơn tố giác tội phạm cập nhật mới nhất
2. Tình hình tội phạm là gì? Tại sao cần nghiên cứu tình hình tội phạm
Với nội dung nghiên cứu riêng của mình, tội phạm học phục vụ trực tiếp việc cảnh báo tội phạm và hỗ trợ các cơ quan, đơn vị, cộng đồng và người dân có biện pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp. Để thực hiện nhiệm vụ này, tội phạm học cần có hệ thống các khái niệm làm công cụ nghiên cứu. Tình hình tội phạm (THTP) là một trong những khái niệm được dùng tương đối phổ biến ở Việt Nam khi nghiên cứu về tội phạm học. Trong hầu hết các công trình nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng về tội phạm học ở Việt Nam hiện nay, từ giáo trình đại học, sách nghiên cứu đến luận án tiến sĩ đều sử dụng khái niệm tình hình tội phạm. Có điều tác giả của những công trình này hiểu khái niệm tình hình tội phạm theo nội dung không thống nhất.
Do vậy, tình trạng hiểu không rõ ràng, không thống nhất về khái niệm tình hình tội phạm ở người học cũng như người đọc nói chung là không tránh khỏi. Nhiều quan điểm, ý kiến không rõ ràng, không thống nhất trong nghiên cứu tội phạm học có nguyên nhân từ cách hiểu không thống nhất về khái niệm tình hình tội phạm.
Câu hỏi được đặt ra ở đây: Phải hiểu khái niệm tình hình tội phạm như thế nào?
Theo “Đại từ điển tiếng Việt” thì “tình hình” được hiểu là “Trạng thái, xu thế phát triển của sự vật, hiện tượng với tất cả những sự kiện diễn ra, biến đổi ở trong đó”.
Từ đó, chúng ta có thể hiểu tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của tội phạm. Khi nói tình hình tội phạm có thể hiểu là tình hình của tội phạm nói chung hoặc của nhóm tội như nhóm tội xâm phạm sở hữu hoặc của tội cụ thể như tội giết người. Đồng thời khi nói tình hình tội phạm bao giờ cũng phải gắn với không gian và khoảng thời gian nhất định, vì tội phạm luôn xảy ra trong không gian và thời gian xác định.
Do vậy, có thể định nghĩa đầy đủ về tình hình tội phạm như sau:
Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của các tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định.
Với định nghĩa này có thể phân biệt rõ giữa tội phạm và tình hình tội phạm. Đó là sự khác nhau giữa bản thân hiện tượng với trạng thái và xu thế vận động của hiện tượng đó.
Trong các công trình nghiên cứu tội phạm học ở Việt Nam, có công trình đưa ra định nghĩa về tình hình tội phạm, có công trình chỉ trình bày nội dung của khái niệm này mà không rút ra định nghĩa. Các định nghĩa về tình hình tội phạm trong những công trình nghiên cứu hiện nay có thể chia thành hai loại. Một loại định nghĩa được xây dựng trên cơ sở phân biệt rõ giữa tội phạm và tình hình tội phạm. Định nghĩa trên đây của tác giả thuộc loại này. Định nghĩa về tình hình tội phạm của tác giả tương đối phù hợp với định nghĩa của GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm trong cuốn “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm”: “Tình hình tội phạm là toàn bộ tình hình, cơ cấu, động thái, diễn biến của các loại tội phạm hay từng loại tội phạm trong một giai đoạn nhất định xảy ra trong một lĩnh vực, một địa phương, trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc toàn thế giới trong một khoảng thời gian nhất định”.
Loại định nghĩa khác về tình hình tội phạm là những định nghĩa thể hiện sự không rõ ràng giữa tội phạm với tình hình tội phạm. Ví dụ như định nghĩa sau: “Tình hình tội phạm là hiện tượng xă hội tiêu cực, trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp và thay đổi theo quá trình lịch sử; được thể hiện ở tổng hợp các tội phạm cụ thể đă xảy ra trong xă hội và trong khoảng thời gian nhất định”.
Hoặc:
“Tình hình tội phạm là một hiện tượng xă hội, pháp lí tiêu cực, được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp, bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xă hội (quốc gia) nhất định và khoảng thời gian nhất định”.
Hoặc:
“Tình trạng phạm tội là hiện tượng xă hội tiêu cực mang thuộc tính xă hội, thường xuyên thay đổi, giai cấp, pháp luật hình sự và được phản ánh bằng toàn bộ tình hình, cơ cấu, diễn biến của tổng thể các loại hoặc của một loại tội phạm đă xảy ra trong khoảng thời gian nhất định và trong một phạm vi nhất định”.
Các công trình nghiên cứu về tội phạm học không có định nghĩa về tình hình tội phạm thường theo hướng không phân biệt rõ giữa tội phạm và tình hình tội phạm.
Từ sự không rõ ràng giữa tội phạm với tình hình tội phạm dẫn đến sự không thống nhất trong trình bày một số nội dung giữa các tác giả trong cùng công trình nghiên cứu cũng như của chính một tác giả. Điều này có thể khiến người đọc cho rằng các tác giả đă sử dụng khái niệm tội phạm và khái niệm tình hình tội phạm như hai khái niệm có thể thay thế cho nhau.
Ví dụ: Trong cuốn “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, các tác giả khi xác định đối tượng nghiên cứu của tội phạm học đă không thống nhất giữa “nguyên nhân và điều kiện của tội phạm” hay “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm”. Có tác giả viết “nguyên nhân và điều kiện của tội phạm” (tr. 5); có tác giả viết “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” (tr. 81). Điều đáng chú ý hơn là ở chỗ: Kể cả tác giả thuộc quan điểm cho rằng đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” vẫn có nhiều đoạn viết không phù hợp với quan điểm này.
Ví dụ như đoạn viết: “… và cũng có những hiện tượng xă hội mà chính chúng lại làm phát sinh hoặc thúc đẩy tội phạm phát triển và được gọi là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm. … Bản chất, các đặc điểm của tội phạm chỉ có thể được làm rõ khi người nghiên cứu đồng thời xem xét các mối liên hệ biện chứng với các quá trình và hiện tượng khác trong đó có các quá trình và hiện tượng là nguyên nhân và điều kiện của tội phạm”.
Trong giáo trình tội phạm học của Trường Đại học Luật Hà Nội, các tác giả đều thống nhất khẳng định đối tượng nghiên cứu của tội phạm học là: Tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm… Nhưng nhiều lập luận của các tác giả lại thể hiện có sự đồng nhất giữa tội phạm với tình hình tội phạm. Ví dụ như đoạn phân tích sau: “Căn cứ vào mức độ tác động của các ảnh hưởng, quá trình xă hội, nguyên nhân và điều kiện của tình trạng phạm tội còn được phân chia làm các loại sau đây:
– Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung;
– Nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm nhất định;
– Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể…”
Với đoạn viết trên, người đọc có thể hiểu: Tác giả của giáo trình muốn thể hiện có tội phạm nói chung, có loại tội phạm và có tội phạm cụ thể. Tương ứng với sự phân loại này cũng có ba loại nguyên nhân và điều kiện. Đó là nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm…; nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm…; nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nhất định. Như vậy, ở đây, tác giả có sự đồng nhất giữa tội phạm nói chung với tình hình tội phạm. Khi nói nguyên nhân và điều kiện của tội phạm (nói chung) tác giả thể hiện: “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm”; còn khi nói nguyên nhân và điều kiện của nhóm tội phạm và của loại tội phạm cụ thể thì tác giả lại thể hiện: “Nguyên nhân và điều kiện của các loại tội phạm hoặc của tội phạm cụ thể”.
Sự đồng nhất tình hình tội phạm với tội phạm (nói chung) như vậy cũng được thể hiện trong lập luận của một số tác giả khác.
Ví dụ: Trong cuốn “Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, tác giả viết: “Chúng ta có thể nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung, có thể nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của một nhóm tội hoặc một loại tội” (tr. 195) hoặc “Mối quan hệ giữa tội phạm và tình hình tội phạm là mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng”.
Theo nghĩa triết học, chỉ có quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng” khi nói tội phạm với tội phạm cụ thể hoặc với nhóm tội phạm cụ thể. Ở đây, tội phạm là “cái chung” còn tội A hay tội B cũng như nhóm tội C hay nhóm tội D là “cái riêng”. Theo chúng tôi, khi khẳng định tình hình tội phạm là “cái chung” và tội phạm là “cái riêng” tác giả đă quan niệm tội phạm nói ở đây là tội phạm cụ thể và tình hình tội phạm được hiểu là tội phạm nói chung. Do quan niệm tình hình tội phạm là tội phạm nói chung nên các tác giả này mới viết: “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” (nghĩa là nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nói chung) hoặc viết “Phòng ngừa tình hình tội phạm” (nghĩa là phòng ngừa tội phạm nói chung). Do quan niệm về tình hình tội phạm như vậy nên các tác giả này cũng gắn những đặc điểm của tội phạm như tính trái pháp luật hình sự, tính lịch sử… cho tình hình tội phạm. Nhưng khi phân tích về nội dung của tình hình tội phạm thì các tác giả lại quan niệm tình hình tội phạm đúng như chúng tôi quan niệm (Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian nhất định).
Vậy vấn đề đặt ra cần phải hiểu khái niệm tình hình tội phạm như thế nào? Khái niệm đó có thật cần thiết cho tội phạm học không?
Chúng ta không thể sử dụng khái niệm tình hình tội phạm cùng một lúc theo hai nghĩa khác nhau: Tình hình tội phạm là khái niệm chỉ tội phạm nói chung và tình hình tội phạm là khái niệm chỉ trạng thái và xu thế vận động của tội phạm. Về mặt ngôn ngữ thì khái niệm tình hình tội phạmphải được hiểu theo nghĩa thứ hai. Đó là trạng thái và xu thế vận động của tội phạm. Trong đó có tình hình tội phạm của tất cả các tội phạm (tội phạm nói chung – tất cả các tội danh); Tình hình tội phạm của nhóm tội phạm (nhóm tội danh) và tình hình tội phạmcủa từng tội phạm (tội danh cụ thể). Tội phạm học nghiên cứu tội phạm ở một số nội dung. Trong đó có hai nội dung:
– Nghiên cứu tội phạm về mức độ, tính chất và xu hướng vận động;
– Nghiên cứu tội phạm về nguyên nhân phát sinh.
Khái niệm tình hình tội phạm khi được hiểu như chúng tôi trình bày sẽ bao trùm hết các biểu hiện cụ thể của nội dung nghiên cứu thứ nhất nêu trên của tội phạm học. Thay vì nói: Mức độ, tính chất và xu hướng vận động của tội phạm chúng ta có thể nói tình hình tội phạm. Điều này thể hiện sự cần thiết của khái niệm tình hình tội phạm. Hơn nữa, khái niệm này đă là khái niệm quen thuộc, được sử dụng nhiều trong tội phạm học Việt Nam.
Khi đă phân biệt rõ tội phạm với tình hình tội phạm trên cơ sở hiểu tình hình tội phạm như định nghĩa nêu trên chúng ta có thể rút ra được các kết luận sau:
– Nếu xem tội phạm là hiện tượng xă hội phát sinh bởi nguyên nhân nhất định thì tình hình tội phạm là “bức tranh tổng thể” của những hiện tượng – tội phạm đă xảy ra. Chính những tội phạm đă xảy ra tạo nên “bức tranh tổng thể” đó. Nghiên cứu tình hình tội phạm là nghiên cứu trạng thái của tội phạm và nghiên cứu xu hướng vận động của tội phạm. Đó là hai nội dung nghiên cứu về tình hình tội phạm và cách gọi phổ biến hiện nay là thực trạng và động thái của tội phạm.
– Cùng với việc nghiên cứu tình hình tội phạm, tội phạm học còn nghiên cứu nguyên nhân làm phát sinh tội phạm để từ đó nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa tội phạm có tính tổng thể. Đó là vấn đề nguyên nhân, điều kiện của tội phạm và vấn đề phòng ngừa tội phạm.
– Tình hình tội phạm là “bức tranh tổng thể” của những tội phạm đă xảy ra nên giữa tình hình tội phạm với nguyên nhân của tội phạm có quan hệ nhất định với nhau. Tuy nhiên, không thể gắn nguyên nhân của tội phạm là nguyên nhân của tình hình tội phạm – “Cái” được tạo bởi các tội phạm đă xảy ra. Do vậy, không thể nói: “Nguyên nhân của tình hình tội phạm” cũng như không thể nói: “Phòng ngừa tình hình tội phạm”.
Từ định nghĩa: “Tình hình tội phạm là trạng thái, xu thế vận động của (các) tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định” có thể rút ra một số đặc điểm của tình hình tội phạm như sau:
– Đặc điểm về phạm vi: Tình hình tội phạm luôn gắn với các phạm vi – phạm vi đối tượng, phạm vi không gian và phạm vi thời gian. Phạm vi đối tượng thường có ba mức độ: Phạm vi tất cả các tội phạm, phạm vi nhóm tội phạm (như nhóm tội tham nhũng, nhóm tội xâm phạm sở hữu…) và phạm vi tội phạm cụ thể (như tội giết người, tội nhận hối lộ…). Ngoài ra, các phạm vi đó còn có thể được giới hạn tiếp bởi đặc điểm nhất định của tội phạm (như giới hạn trong phạm vi những tội do người chưa thành niên thực hiện hoặc giới hạn trong phạm vi những tội cố ư…). Phạm vi về không gian có thể là phạm vi toàn quốc, phạm vi vùng (như các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long), phạm vi địa phương (như thành phố Hà Nội, tỉnh Sóc Trăng) hoặc phạm vi ngành, lĩnh vực (như lĩnh vực xây dựng, lĩnh vực ngân hàng hoặc ngành tư pháp). Phạm vi thời gian có thể là khoảng thời gian 5 năm, 10 năm hoặc trong giới hạn bởi mốc bắt đầu và mốc kết thúc nào đó. Đặc điểm này của tình hình tội phạm đ̣i hỏi khi nghiên cứu tình hình tội phạm, người nghiên cứu phải xác định rõ ràng ngay từ đầu các phạm vi này. Trong cả quá trình nghiên cứu, các phạm vi này luôn phải được tuân thủ một cách thống nhất.
– Đặc điểm về nội dung: Tình hình tội phạm luôn gắn với các đặc điểm về nội dung – đặc điểm về mức độ, đặc điểm về cơ cấu và tính chất, đặc điểm về xu hướng vận động. Đặc điểm về mức độ cùng với đặc điểm về cơ cấu và tính chất hợp thành đặc điểm về thực trạng của tội phạm. Đặc điểm về xu hướng vận động thường được gọi là đặc điểm về động thái của tội phạm. Như vậy, đặc điểm về nội dung đ̣i hỏi người nghiên cứu tình hình tội phạm phải làm rõ đặc điểm về thực trạng và về động thái của tội phạm.
– Đặc điểm về tính phụ thuộc pháp lí và tính vận động: Tội phạm – hiện tượng xă hội tạo nên “bức tranh tình hình tội phạm” luôn có tính pháp lí vì được phản ánh trong luật hình sự. Chỉ những hiện tượng xă hội xảy ra đă được quy định trong luật hình sự mới có thể là “nguyên liệu” tạo ra “bức tranh tình hình tội phạm”. Thay đổi của luật sẽ làm thay đổi “nguyên liệu” và qua đó làm thay đổi “bức tranh”. Như vậy, có thể nói: Tình hình tội phạm có tính phụ thuộc pháp lí. Đồng thời với đặc điểm này, tình hình tội phạm cũng có tính vận động – không ổn định theo thời gian và không gian. Tình hình tội phạm có thể thay đổi do tội phạm luôn vận động theo quy luật dưới sự tác động của các hiện tượng, quá trình xă hội khác. Con người có thể chủ động tác động để tình hình tội phạm thay đổi theo hướng giảm thiểu qua việc áp dụng các biện pháp hạn chế, ngăn ngừa tội phạm. Đặc điểm này đ̣i hỏi người nghiên cứu phải chú ý đến các điều kiện kinh tế-xă hội và môi trường pháp lí trong đó có môi trường pháp lí hình sự khi xem xét, đánh giá tình hình tội phạm.
– Đặc điểm về tính tuyệt đối và tính tương đối: Tình hình tội phạm luôn tồn tại khách quan và có thể nhận thức được nhưng chúng ta chỉ có thể nhận thức được gần đúng vì những lí do khách quan và chủ quan khác nhau. Tình hình tội phạm mà chúng ta nhận thức được chỉ là tình hình tội phạm tương đối so với tình hình tội phạm thực là tình hình tội phạm tuyệt đối. Vấn đề đặt ra là cần loại trừ những yếu tố có thể làm sai lệch nhận thức để chúng ta đến gần nhất với tình hình tội phạm tuyệt đối.
Tình hình tội phạm có thể được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau theo cấp độ và phạm vi.
Theo cấp độ của tình hình tội phạm chúng ta có thể có tình hình tội phạm ở Việt Nam (cấp quốc gia); tình hình tội phạm ở vùng A, tình hình tội phạm ở tỉnh B (cấp địa phương); tình hình tội phạm ở ngành C (cấp ngành, lĩnh vực).
Theo phạm vi của tình hình tội phạm chúng ta có thể có tình hình tội phạm ở… (phạm vi toàn bộ các tội phạm); tình hình các tội A ở… (phạm vi nhóm tội); tình hình tội B ở… (phạm vi tội cụ thể).
Theo phạm vi tình hình tội phạm còn có thể được giới hạn bởi một số đặc điểm khác như đặc điểm về lỗi (giới hạn ở tội cố ý hay vô ý) về chủ thể (như giới hạn ở chủ thể của tội phạm là người chưa thành niên, ở chủ thể của tội phạm là phụ nữ v.v..)./.
3. Khái niệm về hậu quả thiệt hại của tội phạm
Hậu quả thiệt hại là các thiệt hại do hành vi khách quan gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự và cũng là khách thể của tội phạm.
Thiệt hại gây ra cho khách thể của tội phạm được thể hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của dối tượng tác động của tội phạm. Tính chất và mức độ của thiệt hại (hậu quả) được xác định bởi tính chất và mức độ biến đổi của các đối tượng tác động của tội phạm như ở các tội xâm phạm sức khoẻ hoặc bởi những đặc điểm (về chất và lượng) của chính đối tượng tác động đã bị hành vi khách quan của tội phạm làm biến đổi tình trạng như ở các tội chiếm đoạt tài sản (tội ttộm cắp tài sản, tội tham ô tài sản...). Tội phạm nào cũng có thể gây ra hậu quả thiệt hại, cũng có thể gây ra sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm.
Tuy nhiên, không phải tất cả các cấu thành tội phạm đều có dấu hiệu phản ánh nội dung này mà chỉ có một số cấu thành tội phạm nhất định. Những cấu thành tội phạm này như được trình bày trong chương IV được gọi là cấu thành tội phạm vật chất. Trong các cấu thành tội phạm vật chạt, hậu quả thiệt hại không được phản ánh một cách trực tiếp mà được phản ánh thông qua đổi tượng tác động của tội phạm, về thực chất, hậu quả của tội phạm là thiệt hại gây ra cho quan hệ xã hội nhưng về hình thức, dấu hiệu trong cấu thành tội phạm phản ánh nội dung này là dấu hiệu thể hiện sự biến đổi tình trạng bình thường của đổi tượng tác động của tội phạm hoặc thể hiện đặc điểm (về chất hoặc lượng) của đối tượng tác động của tội phạm. Cho nên, trong thực tiễn áp dụng, việc xác định, đánh giá hậu quả của tộỉ phạm được thực hiện thông qua việc xác định, đánh giá đặc điểm của đổi tượng tác động của tội phạm hoặc sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm. Do thực tế này mà nhiều khi dẫn đến sự đồng nhất giữa hậu quả thiệt hại với sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm. Bất cứ sự biến đổi nào của đối tượng tác động của tội phạm, dù sự biến đổi đó được hoặc không được phản ánh trong cấu thành tội phạm cũng chỉ là hình thức biểu hiện hậu quả thiệt hại cho xã hội.
Sự biến đổi của đối tượng tác động của tội phạm được phản ánh trong cấu thành tội phạm có thể là:
- Sự biến đổi tình trạng bình thường của thực thể tự nhiên của con người: Sự biến đổi này thường được gọi là thiệt hại về thể chất. Các thiệt hại này bao gồm thiệt hại về tính mạng (hậu quả chết người) như ở tội giết người (Điều 123 BLHS), tội vô ý làm chết người (Điều 128 BLHS) và thiệt hại về sức khoẻ (hậu quả thương tích hoặc các tổn hại cho sức khoẻ) như ở tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 134 BLHS), tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (Điều 138 BLHS).
Ngoài thiệt hại về thể chất, hành vi phạm tội còn có thể gây ra thiệt hại về tinh thần. Đó là thiệt hại gây ra cho nhân phẩm, danh dự, tự do của con người. Thiệt hại này do khó xác định trong thực tế nên nói chung không được phản ánh trong cấu thành tội phạm.
- Sự biến đổi tình trạng bình thường của đổi tượng vật chất là khách thể của quan hệ xã hội: Sự biến đổi này thường được gọi là thiệt hại về vật chất. Thiệt hại này có thể dưới dạng tài sản bị phá hoại (Điều 114 Bộ luật hình sự năm 2015), bị phá hủy (Điều 303 BLHS), bị huỷ hoại (Điều 178 BLHS) hoặc dưới dạng tài sản bị chiếm đoạt (Điều 168 đến Điều 175 BLHS) hoặc dưới dạng tài sản bị sử dụng trái phép (Điều 177 BLHS) hoặc dưới dạng tài sản bị chiếm giữ trái phép (Điều 176 BLHS).
- Sự biển đổi xử sự của con người: Hành vi khách quan có thể là sự tự làm biến dạng xử sự của chính chủ thể nhưng cũng có thể làm biến dạng xử sự của người khác. Trong những trường hợp như vậy, xử sự đã biến dạng (làm hoặc không làm một việc) được coi là kết quả của hành vi khách quan đã thực hiện của người phạm tội. Kết quả này có thể được phản ánh trong cấu thành tội phạm là dấu hiệu khách quan - dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ: Xử sự tự sát có thể là hậu quả của hành vi xúi giục người khác tự sát (Điều 131 BLHS) hoặc của hành vi bức từ (Điều 130 BLHS); xử sự sống sa đoạ hoặc phạm pháp có thể là hậu quả của hành vi dụ dỗ người dưới 18 tuổi phạm pháp (Điều 325 BLHS).
- Sự biến đổi khác: Đây là các biến đổi có tính nguy hiểm cho xã hội do hành vi khách quan gây ra mà không thuộc 4 loại biến đổi trên. Đó có thể là sự biến đổi từ tình trạng an toàn sang tình trạng mất an toàn nghiêm trọng như an toàn giao thông đường sắt. Sự mất an toàn nghiêm trọng ở đầy được hiểu là tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản và tình trạng này có thể do hành vi vi phạm của con người gây ra (như hành vi vi phạm quy tắc an toàn giao thông đường sắt đã gây ra tình trạng 2 đoàn tàu ngược chiều đi vào cùng đường ray và chỉ dừng lại khi cách nhau ít mét do được phanh kịp thời). Tình trạng này đã từng xảy ra trên thực tế và cũng được BLHS quy định tại khoản 4 Điều 267: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt trong trường hợp có khả năng thực tể dẫn đến hậu quả ... nếu không được ngăn chặn kịp thời”. Trong quy định này, “khả năng thực tế dẫn đến hậu quả ...” cần được hiểu là tình trạng nguy hiểm và tình trạng này là do hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đương sắt gây ra. Trong BLHS, tình trạng nguy hiểm được quy định trong một số điều luật, trong đó có các điều luật về các tội xâm phạm an toàn giao thông.
Tóm lại, hậu quả thiệt hại là thiệt hại gây ra cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, thể hiện dưới các dạng:
- Thiệt hại về vật chất;
- Thiệt hại về thể chất;
- Thiệt hại về tinh thần.
- Các biến đổi khác (trong đó có tình trạng nguy hiểm).
Việc nghiên cứu hậu quả thiệt hại có những ý nghĩa thực tiễn sau:
- Đối với tội có cấu thành tội phạm vật chất, việc xác định hậu quả thiệt hại có ý nghĩa đối với việc định tội.
- Đối với trường hợp cấu thành tội phạm tăng nặng có dấu hiệu phản ánh hậu quả (hoặc mức độ hậu quả), việc xác định hậu quả thiệt hại có ý nghĩa đối với việc định khung hình phạt.
- Đối với trường hợp khác, việc xác định mức độ hậu quả cũng luôn cần thiết vì đó là căn cứ để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và do vậy là căn cứ để quyết định hình phạt.
4. Phân tích mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thiệt hại của tội phạm
Trong yếu tố mặt khách quan của tội phạm, hậu quả thiệt hại là do hành vi khách quan gây ra. Điều đó có nghĩa, giữa hành vi khách quan và hậu quả thiệt hại phải có quan hệ nhân quả (QHNQ) với nhau. Để xác định hậu quả thiệt hại là do hành vi khách quan gây ra cần phải chứng minh có quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả thiệt hại. Do vậy, nếu hậu quả đã được phản ánh là dấu hiệu khách quan trong cấu thành tội phạm thì có nghĩa cấu thành tội phạm cũng đòi hỏi quan hệ nhân quả là một dấu hiệu khách quan. Như vậy, việc định tội theo cấu thành tội phạm này không chỉ đòi hỏi phải xác định hậu quả thiệt hại mà còn đòi hỏi xác định cả quan hệ nhân quảgiữa hành vi khách quan và hậu quả thiệt hại. Người phạm tội chỉ phải chịu TNHS về hậu quả thiệt hại do chính hành vi khách quan của họ gây ra, hay nói cách khác, người phạm tội chỉ phải chịu TNHS về hậu quả thiệt hại khi hậu quả này có quan hệ nhân quả với hành vi khách quan đã được họ thực hiện.
Đối với tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức, hậu quà tuy không phải là dấu hiệu của mặt khách quan được quy định trong cấu thành tội phạm nên không cần xác định khi định tội nhưng việc xác định hậu quả vân có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cũng cần phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả thiệt hại thực tế đã xảy ra.
Cũng như các ngành khoa học cụ thể khác, khoa học luật hình sự Việt Nam không có lí luận riêng về quan hệ nhân quả mà chỉ cụ thể hoá nội dung cặp phạm trù nhân - quả của phép biện chứng duy vật vào lĩnh vực của mình, nhằm giải quyết vấn đề cơ sở khách quan của TNHS.
Theo phép biện chứng duy vật, quan hệ nhân quả là dạng của mối liên hệ giữa các hiện tượng (sự vật, quá trình), trong đó hiện tượng được gọi là nguyên nhân với những điều kiện nhất định đã làm phát sinh hiện tượng khác được gọi là kết quả. Xuất phát từ mục đích chuyên môn, khoa học luật hình sự đã giới hạn phạm vi những hiện tượng có thể là nguyên nhân và kết quả ttong luật hình sự. Nguyên nhân trong luật hình sự chỉ có thể là hành vi khách quan (ttái pháp luật) và kết quả chỉ có thể là hậu qủa thiệt hại cho xã hội.
Căn cứ vào nội dung của cặp phạm trù nhân - quả theo phép biện chứng duy vật, có thể tóm tắt những căn cứ cho phép khẳng định sự tồn tại quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả thiệt hại đã xảy ra như sau:
- Hành vi khách quan phải xảy ra trước hậu quả thiệt hại về mặt thời gian. Căn cứ này tuy không giữ vai trò quyết định nhưng là căn cứ đầu tiên cần kiểm tra. Khi xác định căn cứ này không thoả mãn thì có thể loại trừ ngay quan hệ nhân quả. Đây chính là ý nghĩa thực tiễn của việc xác định căn cứ này.
- Hành vi khách quan độc lập hoặc trong sự tổng hợp với một hoặc nhiều hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tể làm phát sinh hậu quả thiệt hợi. Khả năng này có thê là khả năng trực tiếp làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm như khả năng gây chết người của hành động đâm vào ngực nạn nhân hay của không hành động không cho trẻ sơ sinh ăn V.V.. Khả năng này cũng có thể chỉ là khả năng để sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động tiếp tục diễn ra, không bị ngăn chặn như khả năng để việc chết người xảy ra của không hành động không cứu người đang sắp chết đuối hoặc không cấp cứu người đang bị thương nặng V.V..
- Hậu quả thiệt hại đã xảy ra là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi khách quan (khả năng trực tiếp làm biến đổi tình trạng bình thường của đổi tượng tác động hoặc khả năng để sự biến đổi đó tiếp tục diễn ra không bị ngăn chặn). Trong những điều kiện như những điều kiện trong trường họp cụ thể mà hậu quả đã xảy ra, khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả trở thành hiện thực là tất nhiên, không tránh khỏi.
Căn cứ thứ ba này được đặt ra và đòi hỏi phải được kiểm tra trong thực tiễn áp dụng vì trong thực tế, không phải hành vi khách quan nào, kể cả hành vi có khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả cũng đều gây ra hậu quả và trong nhiều trường hợp, hậu quả thiệt hại đã xảy ra là kết quả của hành vi khách quan khác. Ví dụ: A đâm B bị thương vào vùng ngực. Trên đường đưa đi bệnh viện, B bị ô tô do c lái cán vào làm dập sọ não và B đã chết ngay. Giám định pháp y khẳng định: Việc B chết không phụ thuộc vào vết thương do A đã gây ra. vết thương do A gây ra tuy nguy hiểm đến tính mạng nhưng vẫn có thể cứu chữa được. Trong trường hợp này, hành vi gây thương tích của A tuy có khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người nhưng khả năng đó chưa “phát huy” thì hành vi của c đã xen vào, phá vỡ khả năng đó và tạo ra mối quan hệ mới. Trong mối quan hệ mới này, hành vi của c đã gây ra hậu quả chết người. Ở đây cần phân biệt trường hợp này với trường hợp trong đó hành vi mới xen vào không phá vỡ khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi đã xảy ra trước mà chỉ góp phần thúc đẩy khả năng đó phát triển làm phát sinh hậu quả. Ví dụ: A đâm B bị thương nặng, B đã được đưa đi cấp cứu nhưng do không được cấp cứu chu đáo (nhân viên bệnh viện thiếu trách nhiệm) vết thương đã trở nên trầm trọng hơn và B đã chết vì vết thương đó. Trong trường họp này, giữa hành vi đầu là hành vi của A và hậu quả vẫn có quan hệ nhân quả với nhau.
Trong quan hệ nhân quả, hành vi khách quan (được coi là nguyên nhân) tuy giữ vai trò quyết định đối với sự phát sinh hậu quả thiệt hại (được coi là kết quả) nhưng hậu quả đó có xảy ra hay không và xảy ra như thế nào còn phụ thuộc vào yếu tố điều kiện. Hành vi khách quan là nguyên nhân mới chỉ có khả năng thực tế gây ra hậu quả chưa xác định hoàn toàn. Nó chỉ có thể gây ra hậu quả xác định trong những điều kiện xác định. Tính chất, mức độ, phạm vi của hậu quả sẽ thay đổi tuỳ theo điều kiện cụ thể đã ảnh hưởng đến khả năng phát sinh hậu quả của hành vi khách quan được coi là nguyên nhân. Cùng là hành vi lái ẩu để ô tô chồm lên vỉa hè nhưng tuỳ thuộc vào địa điểm, thời gian xảy ra... mà hậu quả thiệt hại có thể rất khác nhau. Trong QHNQ, yếu tố điều kiện cũng có thể là hành vi trái pháp luật. Đây là trường hợp luật hình sự quan tâm. Hành vi trái pháp luật chỉ là điều kiện nếu không có khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả thiệt hại nhưng có ảnh hưởng đến mức độ, phạm vi cũng như tốc độ hiện thực hoá khả năng làm phát sinh hậu quả thiệt hại của hành vi khách quan là nguyên nhân. Nếu thiếu hành vi trái pháp luật được coi là điều kiện này thì hậu quả sẽ không xảy ra hoặc xảy ra khác đi.
Trong thực tế, quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả thiệt hại tồn tại dưới nhiều dạng cụ thể khác nhau, trong đó có hai dạng phổ biến:
- Dạng quan hệ nhân quả đơn trực tiếp: Là dạng quan hệ nhân quả trong đó chỉ có một hành vi khách quan đóng vai trò là nguyên nhân của hậu quả thiệt hại. Sự vận động nội tại của hành vi khách quan có khả năng trực tiếp đưa đến hậu quả thiệt hại và khả năng này sẽ trở thành hiện thực trong điều kiện nhất định.
- Dạng quan hệ nhân quả kép trực tiếp: Là dạng quan hệ nhân quảtrong đó có nhiều hành vi khách quan cùng đóng vai trò là nguyên nhân. Trong dạng quan hệ nhân quả này, có thể mỗi hành vi đều có khả năng thực tế trực tiếp làm phát sinh hậu quả.
Ví dụ: K và B cùng dùng dao đâm nhiều phát vào ngực nạn nhân và làm nạn nhân chết. Trong ví dụ này, hành vi của A hay hành vi của B đều chứa đựng khả năng thực tế trực tiếp dẫn đến hậu quả chết người. Hậu quả chết người đã xảy ra là sự hiện thực hoá những khả năng đó. Thuộc dạng quan hệ nhân quả này còn có trường hợp trong đó mỗi hành vi khách quan đều chưa có khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả. Khả năng này chỉ hình thành khi các hành vi đó có sự kết hợp với nhau.
Ví dụ: Xe khách do X lái đã được đóng không đúng quy cách kĩ thuật. Xe đã được sử dụng nhiều năm nhưng vẫn an toàn. Trong một chuyến chở khách, khi vào cua xe đã đổ. Kết quả điều tra cho thấy: Hành vi đưa xe có lỗi kĩ thuật vào sử dụng là trái pháp luật. Tuy nhiên, xe chạy vẫn an toàn nếu lái xe không phạm lỗi nào khác. Lái xe X đã phạm lỗi kĩ thuật khi vào cua. Mặc dù vậy, hành vi này vẫn chưa thể gây ra đổ xe nếu xe không có lỗi kĩ thuật. Trong ví dụ này, mỗi hành vi đều chưa có khả năng thực tế gây ra hậu quả tai nạn nhưng trong sự kết hợp với nhau, khả năng thực tế gây ra hậu quả đã hình thành và trong điều kiện xác định cụ thể (trời mưa, đường trơn) khả năng đó đã trở thành hiện thực.
5. Các dạng tồn tại của mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả của tội phạm
6. Nhiệm vụ của tội phạm học Việt nam trong tình hình mới
Để góp phần vào sự chuyển biến mạnh mẽ về trật tự an toàn xã hội, giữ vững kỷ cương pháp luật, làm giảm đáng kể tội phạm, xây dựng môi trường lành mạnh… như mục tiêu của Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm đã xác định thì công tác nghiên cứu Tội phạm học cần phải xác định cho mình những nhiệm vụ rõ ràng, có những lộ trình cụ thể. Vậy nhiệm vụ của Tội phạm học là gì?
Nghị quyết 09/1998/NQ-CP về tăng cường công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới đã triển khai được mười năm và đã đem lại những thành công nhất định. Sau mười năm đi vào cuộc sống, nó đã khẳng định các đường lối chủ trương đưa ra là phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, điều đó đã thêm một lần nữa khẳng định giá trị khoa học của Nghị quyết 09/1998/NQ-CP cũng như các đề án của Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm. Trong mười năm (1998-2008) lực lượng Công an cả nước đã phát hiện, điều tra khám phá 370.825 vụ phạm tội các loại, triệt phá 16.485 băng nhóm tội phạm hình sự gồm 44.852 đối tượng phạm tội. Nhìn chung qua tổng kết tình hình tội phạm trong cả nước cho thấy tỉ lệ tội phạm năm sau giảm hơn năm trước tuy rằng sự tăng giảm của tội phạm không ổn định. Điều đó cho thấy tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay còn diễn biến phức tạp, cơ cấu, tính chất mức độ của tội phạm có sự biến động, thay đổi qua các năm. Nguyên nhân, điều kiện của tội phạm chưa được xác định rõ ràng, công tác dự báo tội phạm còn hạn chế. Để góp phần vào sự chuyển biến mạnh mẽ về trật tự an toàn xã hội, giữ vững kỷ cương pháp luật, làm giảm đáng kể tội phạm, xây dựng môi trường lành mạnh… như mục tiêu của Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm đã xác định thì công tác nghiên cứu Tội phạm học cần phải xác định cho mình những nhiệm vụ rõ ràng, có những lộ trình cụ thể. Vậy nhiệm vụ của Tội phạm học là gì?
Trước hết chúng ta cần hiểu: Tội phạm học là ngành khoa học nghiên cứu về tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, phát triển tình hình tội phạm và các loại tội phạm cụ thể, nghiên cứu nhân thân người phạm tội và các biện pháp phòng ngừa nhằm hạn chế, tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Tội phạm học có những nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là: Nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về tình hình tội phạm xẩy ra ở Việt Nam, xác định rõ những nguyên nhân, điều kiện có thể làm phát sinh, phát triển tình hình tội phạm.
Hai là: Xây dựng những luận cứ khoa học vững chắc, phù hợp với thực tiễn, làm cơ sở cho việc đề ra các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những biện pháp công tác lớn của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Ba là: Nghiên cứu, sử dụng những thành tựu của các ngành khoa học khác, ứng dụng những phát minh, sáng kiến cải tiến (nhất là thành tựu của khoa học – công nghệ) vào thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Bốn là: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về Tội phạm học, đưa khoa học Tội phạm học ở Việt Nam trở thành một ngành khoa học độc lập, phong phú gắn kết chặt chẽ với các ngành khoa học khác có liên quan. Tội phạm học của Việt Nam cần có sự trao đổi, hợp tác chặt chẽ, đặt trong mối quan hệ mật thiết với Tội phạm học của các nước trên thế giới.
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng nhiệm vụ của Tội phạm học chính là những công việc phải tiến hành trong hoạt động nghiên cứu khoa học Tội phạm học nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống lý luận, tác động trực tiếp có hiệu quả đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta hiện qua các thời kỳ.
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, chúng ta thấy rằng Tội phạm học đã có những bước tiến quan trọng. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tội phạm dưới giác độ của tội phạm học đã ra đời như:
- Tội phạm ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của TS. Lê Thế Tiệm và đồng nghiệp. NXB Công an nhân dân 1994
- Tội phạm học, Luật Hình sự, Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam của TS Đào Trí Úc, NXB Chính trị quốc gia 1994.
- Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, NXB Công an nhân dân 2000.
- Phòng ngừa tội phạm do người nước ngoài gây ra tại Viêt Nam của lực lượng Công an nhân dân. Trần Phương Đạt - Luận án tiến sĩ Luật học 2000…
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác gồm: Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp bộ, và nhiều sách chuyên khảo khác đã giải quyết được những nhiệm vụ của Tội phạm học trong những lĩnh vực, thời điểm cụ thể. Tuy nhiên, để Tội phạm học Việt Nam trở thành một khoa học độc lập và đáp ứng được công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới theo chúng tôi cũng chính là việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của Tội phạm học đã đặt ra như trên. Qua nghiên cưu cho thấy, để thực hiện được các nhiệm vụ trên chúng ta cần tiến hành tốt các hoạt động sau đây:
Thứ nhất: Đẩy mạnh công tác khảo sát, nghiên cứu đánh giá tình hình tội phạm trên phạm vi cả nước để có một bức tranh toàn cảnh về tình hình tội phạm ở Việt Nam. Tình hình tội phạm không đơn thuần là con số cơ học phản ánh tổng số vụ phạm tội xẩy ra và số đối tượng thực hiện hành vi phạm tội đó, mà nó là khái niệm phản ánh một hiện tượng tiêu cực mang bản chất xã hội. Nó có nguồn gốc, là sản phẩm của xã hội, có nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển từ chính xã hội đó đồng thời nó có mối quan hệ biện chứng với các hiện tượng xã hội. Khi nghiên cứu đánh giá tình hình tội phạm phải đặt trong một chỉnh thể thống nhất với tình hình kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa xã hội liên quan. Hiện nay nước ta đang đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế. Do đó nó chịu sự tác động không nhỏ của tình hình tội phạm trên thế giới và sự phát sinh tội phạm từ những mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Tội phạm mang tính quốc tế như: tội phạm về ma túy, rửa tiền, tài trợ khủng bố dự báo sẽ có chiều hướng gia tăng, tính chất mức độ sẽ trở nên nguy hiểm hơn. Công tác đấu tranh sẽ phải đặt trong mối quan hệ hợp tác quốc tế cao hơn.
Xác định rõ nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm nói chung và nguyên nhân, điều kiện của tội phạm cụ thể. Một trong những yếu tố cấu thành nên khoa học Tội phạm học đó là “Nguyên nhân – Điều kiện của tình hình tội phạm”, việc nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm là một nội dung trong những nhiệm vụ của Tội phạm học. Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm có nhiều, song có thể dễ dàng nhận thấy bên cạnh những thành quả mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại thì quá trình toàn cầu hóa, việc gia nhập WTO, mở cửa thị trường bán lẻ, … cũng sẽ hàm chứa những điều kiện thuận lợi cho các tội phạm phát triển như: tội phạm kinh tế quốc tế, ma túy, rửa tiền, mua bán phụ nữ, tội phạm môi trường,…
Thứ hai: Trên cơ sở nghiên cứu tình hình tội phạm, nguyên nhân – điều kiện của tình hình tội phạm, các nhà nghiên cứu tội phạm học sẽ xây dựng những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác hoạch định chiến lược, xây dựng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “các tội phạm xuyên quốc gia có chiều hướng phát triển”. Để tiến hành phòng ngừa tội phạm từ nay đến năm 2020 cần phải làm rõ đâu là nguyên nhân trực tiếp, đâu là nguyên nhân gián tiếp, những điều kiện nào làm cho tội phạm gia tăng? Trả lời câu hỏi này cần có những công trình nghiên cứu khoa học, các cuộc hội thảo khoa học - thưc tiễn gắn với những nhiệm vụ cụ thể. Như Hội thảo khoa học thực tiễn “Đổi mới CSXH đảm bảo phòng ngừa, chống tệ nạn xã hội trong nền kinh tế thị trường” Tổng cục Cảnh sát nhân dân tổ chức năm 1992, Hội thảo phòng chống tội phạm truyền thống, tội phạm phi truyền thống do Học viện Cảnh sát nhân dân phối hợp với TCCS tổ chức năm 2008. Đây chính là cơ sở để xây dựng các luận cứ khoa học phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Thứ ba: Tăng cường việc nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu của các ngành khoa học có liên quan. Tội phạm học là một ngành khoa học ra đời sau một số ngành khoa học khác, song đây là ngành khoa học xã hội – pháp lý nên có thể thấy nó có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành khoa học khác như: xã hội học, tâm lý học, khoa học luật hình sự, tố tụng hình sự, khoa học điều tra hình sự… ngoài ra với sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ thì tội phạm học cũng đã nghiên cứu ứng dụng những thành tựu của chúng để phục vụ công tác nghiên cứu của mình. Xét trong mối quan hệ giữa Tội phạm học với các ngành khoa học nêu trên thì đây là mối quan hệ biện chứng. Tội phạm học nghiên cứu về tội phạm với tính cách là một hiện tượng tiêu cực của xã hội nên nó vừa sử dụng kiến thức của các ngành khoa học xã hội khác để nghiên cứu nhưng nó cũng cung cấp những tri thức cho các ngành khoa học đó để phát triển. Điển hình như, Tội phạm học sử dụng khái niệm “tội phạm”, “người phạm tội” của khoa học luật hình sự để xác định tình hình tội phạm, các nguyên nhân, điều kiện của tội phạm từ đó đề ra các biện pháp phòng ngừa, mặt khác cung cấp tri thức để khoa học luật hình sự xách định hành vi nguy hiểm nào cho xã hội được coi là tội phạm, hay nói cách khác là cơ sở để hình sự hóa một hành vi vi phạm pháp luật. Tội phạm học còn sử dụng những thành tựu của khoa học công nghệ nói chung và công nghệ thông tin nói riêng trong thống kê hình sự, dự báo tội phạm.
Thứ tư: Từng bước hoàn thiện hệ thống lý luận Tội phạm học, đưa Tội phạm học trở thành một trong những ngành khoa học quan trọng trong công tác nghiên cứu tội phạm và đấu tranh phòng, chống tội phạm. So với một số ngành khoa học xã hội khác ở Việt Nam thì Tội phạm học được coi là một ngành khoa học non trẻ, chưa có sự đầu tư nhiều về cả vật chất và vật lực. Đặc biệt đối với ngành Công an, tuy đã có sự đầu tư nhưng chưa thỏa đáng, cần có chiến lược rõ ràng trong việc xây dựng đội ngũ tri thức, các nhà khoa học, các chuyên viên trong lĩnh vực này. Việc ra đời Trung tâm Nghiên cứu Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm – Học viện Cảnh sát nhân dân cho thấy Bộ Công an đã quan tâm đến công tác nghiên cứu Tội phạm học, gắn công tác nghiên cứu với công tác đào tạo. Song trong những năm tới cần tiến hành đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên trách về nghiên cứu tội phạm học và làm công tác phòng ngừa tội phạm. Thường xuyên cử cán bộ đi học tập, nghiên cứu ở các nước có ngành khoa học Tội phạm học phát triển như ở: Nga, Đức, Pháp, Úc… Tìm hiểu ứng dụng những thành tựu lý luận của Tội phạm học tư sản đồng thời bác bỏ những luận điểm sai trái của một bộ phận nghiên cứu ở các nước tư bản đi ngược lại quan điểm của chủ nghĩa Mac - Lê nin về phòng, chống tội phạm
Trên đây là một số nhiệm vụ của Tội phạm học cần thực hiện nhằm đưa Tội phạm phát triển lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)