1. Khái quát chung về cơ chế khoan hồng trong pháp luật cạnh tranh

Khái niệm cơ chế khoan hồng: Theo pháp luật của Hoa Kỳ, “khoan hồng được hiểu là việc doanh nghiệp báo cáo các hoạt động vi phạm pháp luật của họ ngay từ giai đoạn đầu, nếu họ đáp ứng những điều kiện nhất định. “Khoan hồng” được hiểu là không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi được khai báo”. 

Ở nước ta có thể hiểu khoan hồng trong pháp luật cạnh tranh là việc miễn hoặc giảm hình phạt đối với các doanh nghiệp vi phạm pháp luật cạnh tranh nhưng sau đó lại hợp tác với các cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh.

Đặc điểm của cơ chế khoan hồng:Một là, cơ chế khoan hồng là một chương trình giảm hình phạt tiền, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc là một sự ân xá. Hai là, cơ chế khoan hồng là một chương trình miễn, giảm hình phạt được áp dụng có điều kiện.

Vai trò của cơ chế khoan hồng: 

Thứ nhất, phá vỡ các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, chính sách khoan hồng được áp dụng trước hết với các doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào các thỏa thuận. Họ là những người trực tiếp tham gia, nên họ sẽ cung cấp được các chứng cứ với tính chất là người “bên trong”. Các chứng cứ này có thể xoay quanh các nội dung như: các bên tham gia thỏa thuận, nội dung thỏa thuận, cách thức liên lạc...

Thứ hai, tạo động lực cho các doanh nghiệp có thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tự nguyện khai báo hành vi thỏa thuận của mình cho cơ quan quản lý cạnh tranh. Qua đó, giúp cho việc thu thập các chứng cứ này của các cơ quan quản lý cạnh tranh trở nên dễ dàng hơn.

Thứ ba, làm cho cơ quan quản lý cạnh tranh dễ dàng phát hiện, điều tra và xử lý hơn, Cơ chế khoan hồng tạo động lực cho các thành viên giữ lại chứng cứ về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ngay từ ban đầu, điều này làm cho cơ quan quản lý cạnh tranh dễ dàng phát hiện, điều tra và xử lý hơn, một khi hiệu quả thực thi pháp luật của cơ quan quản lý cạnh tranh tăng cao, nguy cơ doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị phát hiện và xử phạt cũng sẽ càng gia tăng. Trong tình thế đó, doanh nghiệp sẽ bị thúc đẩy chọn phương án chủ động tự tiết lộ hành vi vi phạm để xin được áp dụng biện pháp khoan hồng hơn là thụ động chờ bị cơ quan cạnh tranh phát hiện và xử lý nghiêm khắc.

 

2. Quy định của Luật cạnh tranh năm 2004 về cơ chế khoan hồng

Luật Cạnh tranh năm 2004 chưa có quy định về cơ chế, chương trình khoan hồng. Các vụ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được Cơ quan cạnh tranh phát hiện, điều tra và xử lý chủ yếu dựa trên các thông tin tự phát hiện hoặc được sự trợ giúp từ một số cơ quan truyền thông. Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam đã có những quy định quy về các tình tiết giảm nhẹ áp dụng với các doanh nghiệp trong một số trường hợp nhất định.

Những tình tiết giảm nhẹ này không giúp khám phá hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh do chưa tạo được động cơ và áp lực lớn để doanh nghiệp tham gia thỏa thuận trình báo và cung cấp thông tin về thỏa thuận mà họ tham gia. Hơn nữa, bản chất, mục tiêu của chính sách khoan hồng cũng có sự khác biệt so với các quy định về tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên Luật cạnh tranh 2004 cũng đã đặt ra vấn đề về sự cần thiết xây dựng và áp dụng chính sách khoan hồng tại Việt Nam trong tương lai, mà cụ thể đến năm 2018 Luật cạnh tranh mới ra đời đã có những quy định cụ thể, rõ ràng về cơ chế khoan hồng mà luật trước đó chưa quy định.

 

3. Quy định của Luật cạnh tranh năm 2018 về cơ chế khoan hồng 

Sau 10 năm thực thi cho thấy quy định về tình tiết giảm nhẹ không giúp khám phá hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cùng với đó, thực tiễn cũng cho thấy các cơ chế phát hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã không còn nhiều tác dụng. Trong khi đó những cơ chế khoan hồng được nhiều cơ quan cạnh tranh trên thế giới coi là công cụ hữu hiệu, đã giúp phát hiện tới trên 90% số vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh xuyên biên giới. Qua đó Luật cạnh tranh năm 2018 ra đời và đã có những quy định về cơ chế/chính sách khoan hồng tại điều 112 cụ thể như sau:

 

3.1. Những quy định về thẩm quyền 

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 112 Luật cạnh tranh 2018 thì người đứng đầu của Cơ quan cạnh tranh (Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia) là Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có quyền quyết định việc cho miễn hoặc giảm mức xử phạt. Quy định này cũng giống như ở nhiều quốc gia khác trên thế giới là Cơ quan cạnh tranh có quyền quyết định áp dụng chính sách khoan hồng để miễn hoặc giảm mức xử phạt cho đương đơn. Ở một số quốc gia trên thế giới cũng cho thấy khi Cơ quan cạnh tranh áp dụng chương trình khoan hồng để miễn hoặc giảm mức xử phạt thì cần có sự công nhận của các cơ quan có liên quan như Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan công tố, Cơ quan tòa án.

 

3.2. Đối tượng được áp dụng cơ chế khoan hồng

Theo quy định tại khoản 7 điều 112 Luật cạnh tranh năm 2018 “Việc miễn, giảm mức phạt tiền được thực hiện như sau: a) Doanh nghiệp đầu tiên có đơn xin hưởng khoan hồng và đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này được miễn 100% mức phạt tiền; b) Doanh nghiệp thứ hai và thứ ba có đơn xin hưởng khoan hồng và đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này lần lượt được giảm 60% và 40% mức phạt tiền”. Qua đó, Luật cạnh tranh xác định đối tượng được hưởng cơ chế khoan hồng là các doanh nghiệp, doanh nghiệp ở đây có thể hiểu là chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận, là một chủ thể độc lập trên thị trường không phân biệt là thể nhân hay pháp nhân, hoặc cũng có thể được hưởng cơ chế khoan hồng theo cơ chế khoan hồng riêng của từng doanh nghiệp. Để khuyến khích các cá nhân lên tiếng trong quá trình làm việc với cơ quan cạnh tranh hiện nay một số quốc gia đã hướng đến việc thừa nhận cá nhân là một đối tượng của cơ chế khoan hồng (ví dụ như: Ba Lan, Ireland,..), pháp luật cạnh tranh của Việt Nam cũng có thể xem xét đến quy định này.

Vậy làm thế nào để các doanh nghiệp tự nguyện hợp tác với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi mà họ đang nhận được khoản lợi nhuận từ các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh? Phương pháp đó là phải khai thác những nhân tố làm cho thỏa thuận đó trở nên kém ổn định, đồng thời đưa ra những lựa chọn mang tính xung đột về lợi ích của từng doanh nghiệp đặt trong tương quan lợi ích của nhóm doanh nghiệp đang tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đó. Trong trường hợp những lợi ích của việc tuân thủ các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mang lại là rất lớn so với việc bị xử lý và nếu các doanh nghiệp trao đổi thông tin và đưa ra phương án đối phó thì tình hình có thể khác đi. Đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trên thực tế các doanh nghiệp có thể dễ dàng trao đổi thông tin với nhau khi thỏa thuận đó phát hiện. Do đó vấn đề đặt ra là cần phải tạo ra một duộc đua giữa các doanh nghiệp nhằm tranh giành cơ chế khoan hồng của pháp luật.

Ngoài ra, trên thực tế trong các thị trường có mức độ tập trung cao các thỏa thuận ấn định giá hoạt động khá tốt và hiệu quả trong một số mô hình thị trường so với các mô hình thị trường khác. Một thị trường có số lượng ít doanh nghiệp thì càng dễ dàng đưa ra những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, do đó pháp luật cạnh tranh cần phải có các hình thức để ngăn ngừa, hạn chế khả năng dự đoán phản ứng của các doanh nghiệp trước cơ quan cạnh tranh.

 

3.3. Điều kiện áp dụng cơ chế khoan hồng

Theo quy định tại khoản 3 điều 112 Luật cạnh tranh 2018 về cơ bản đã quy định đầy đủ và minh bạch về các điều kiện để được hưởng khoan hồng, điều này cho phép mọi doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức có thể tự đánh giá về khả năng của mình đáp ứng các điều kiện theo luật định để có thể được áp dụng chính sách khoan hồng. Với nội dung cụ thể sau: “Việc miễn hoặc giảm mức xử phạt quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện trên cơ sở đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: a) Đã hoặc đang tham gia với vai trò là một bên của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại Điều 11 của Luật này; b) Tự nguyện khai báo hành vi vi phạm trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra; c) Khai báo trung thực và cung cấp toàn bộ các thông tin, chứng cứ có được về hành vi vi phạm, có giá trị đáng kể cho việc phát hiện, điều tra và xử lý hành vi vi phạm; d) Hợp tác đầy đủ với cơ quan có thẩm quyền trong suốt quá trình điều tra và xử lý hành vi vi phạm”.

Thứ nhất, doanh nghiệp đó phải là một bên của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh mà không phải là một bên của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm thì không được hưởng cơ chế khoan hồng của pháp luật. Quy định này của Luật cạnh tranh khá tương đồng với quy định của cá quốc gia trên thế giới, đây là một quy định phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Vì trên thực tế việc phát hiện và nhận diện một thỏa thuận có phải là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm hay không là điều không hề dễ dàng vì những thỏa thuận này thường mang tính chất nội bộ, bí mật giữa các thành viên tham gia, nên việc tiếp cận, phát hiện trong quá trình thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn. Những cơ chế khoan hồng này sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp tự phá vỡ liên kết nội bộ khi nhận thấy thiệt hại khi bị áp dụng chế tài xử phạt lớn hơn nhiều so với lợi ích mà các thỏa thuận đó mang lại, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ,…của các cơ quan cạnh tranh.

Thứ hai, doanh nghiệp phải tự nguyện khai báo hành vi vi phạm trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra, quy định này đưa ra giới hạn về thời gian khai báo nên buộc các doanh nghiệp phải nhanh chóng đưa ra quyết định có chủ động khai báo đúng thời hạn để được hưởng cơ chế khoan hồng hay không. Điều này góp phần rút ngắn thời hạn mà các thỏa thuận  hạn chế cạnh tranh tồn tại, doanh nghiệp là chủ thể chính rút ngắn thời gian chứ không cần đợi đến các cơ quan cạnh tranh phát hiện và xử lý.

Thứ ba, doanh nghiệp phải khai báo trung thực và cung cấp toàn bộ các thông tin, chứng cứ có được về hành vi vi phạm, có giá trị đáng kể cho việc phát hiện, điều tra và xử lý hành vi vi phạm, đây là quy định nhằm khuyến khích các doanh nghiệp giữ lại các chứng cứ quan trọng trong quá trình tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Doanh nghiệp muốn được hưởng cơ chế khoan hồng thì việc tự nguyện khai báo là chưa đủ bên cạnh đó các doanh nghiệp này phải thiện chí, trung thực trong việc cung cấp các chứng cứ và thông tin trong quá trình điều tra. Các chứng cứ và thông tin này phải có giá trị đáng kể cho việc phát hiện, điều tra và xử lý hành vi vi phạm, tuy nhiên căn cứ vào đâu để xác định được chứng cứ, thông tin đó có giá trị hay không thì phụ thuộc vào tính định lượng chủ quan và sự tùy nghi của các cơ quan có thẩm quyền.

Thứ tư, các chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cần hợp tác đầy đủ với cơ quan có thẩm quyền trong suốt quá trình điều tra và xử lý hành vi vi phạm, đây là một quy định hợp lý và cần thiết và là xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Sự hợp tác trong quá trình điều tra không chỉ dừng ở việc cung cấp thông tin, chứng cứ mà còn bao gồm việc tuân thủ các yêu cầu hợp pháp của các cơ quan có thẩm quyền để phục vụ công tác điều tra, xét xử hành vi vi phạm. Điều này giúp cho quá trình xử lý vụ việc diễn ra thuận lợi, nhanh chóng và hiệu quả hơn góp phần tránh được tình trạng kéo dài thời gian xử lý đối với các doanh nghiệp không hợp tác.

 

3.4. Số lượng doanh nghiệp và căn cứ xác định doanh nghiệp được hưởng cơ chế khoan hồng

Theo quy định tại khoản 5 điều 112 Luật cạnh tranh 2018 “Chính sách khoan hồng áp dụng cho không quá 03 doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn xin hưởng khoan hồng đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này”. Với quy định này số lượng doanh nghiệp được hưởng chính sách khoan hồng tối là 03 doanh nghiệp. Việc xác định doanh nghiệp được hưởng chính sách này căn cứ vào các điều kiện sau:

"(1) Thứ tự khai báo;

(2) Thời điểm khai báo;

(3) Mức độ trung thực và giá trị của các thông tin, chứng cứ đã cung cấp".

Theo quy định này thì có thể hiểu yếu tố tự khai báo là yếu tố được ưu tiên hàng đầu, nếu doanh nghiệp cung cấp thông tin, chứng cứ càng sớm ở giai đoạn đầu tiên của quá trình điều tra sẽ được miễn, giảm tiền phạt nhiều hơn. Việc áp dụng thứ tự ưu tiên có thể ngăn chặn được việc các thành viên tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cùng nhau xin áp dụng chính sách khoan hồng nhằm mục đích trừng phạt các thành viên còn lại có hành vi vi phạm thỏa thuận.

Mặc dù đã có quy định về số lượng và căn cứ để xác định số doanh nghiệp được hưởng chính sách khoan hồng, những quy định của Luật cạnh tranh còn tồn tại một số hạn chế như: Chưa có quy định rõ về hình thức khai báo thông tin ở dạng nào (văn bản hoặc lời nói), chưa có sự phân định rõ ràng giữa các yêu cầu và điều kiện để được miễn trừ hoàn toàn và miễn trừ một phần,…

 

3.5. Mức độ miễn, giảm hình phạt trong cơ chế khoan hồng

Theo quy định tại khoản 7 điều 112 Luật cạnh tranh năm 2018 có 2 mức độ trong chính sách khoan hồng là miễn hoàn toàn mức phạt và miễn giảm mức phạt. Doanh nghiệp đầu tiên có đơn xin hưởng khoan hồng và đáp ứng đủ điều kiện thì sẽ được miễn 100% mức phạt tiền, doanh nghiệp thứ hai và thứ ba có đơn xin hưởng khoan hồng và đáp ứng đủ điều kiện sẽ lần lượt được giảm 60% và 40% mức phạt tiền.

Hiện nay, việc xác định mức độ miễn, giảm mức phạt trong Luật cạnh tranh 2018 tương đối khác so với các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, xét về điều kiện và tình hình kinh tế trong nước thì mức độ miễn, giảm mức phạt tiền như trên là hoàn toàn phù hợp. Mức độ miễn, giảm hình phạt tiền chênh lệch nhau khá lớn như quy định sẽ tạo ra sức ép nhất định đối với các doanh nghiệp và buộc họ phải chạy đua về mặt thời gian trong việc tự nguyện khai báo các hành vi vi phạm trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra, nhằm được hưởng chính sách khoan hồng cao nhất. Điều đó sẽ tạo điều kiện cho quá trình điều tra, xét xử và xử lý những hành vi vi phạm đạt được hiệu quả cao nhất.

Cùng với quy định cơ chế, chính sách khoan hồng trong Luật cạnh tranh 2018 thì tại điều 217 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội vi phạm các quy định về cạnh tranh cũng đã lần đầu tiên quy định xử lý hình sự đối với các tổ chức, cá nhân tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm, làm tiền đề cho việc thực thi hiệu quả chính sách khoan hồng tại Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam. Những cơ chế khoan hồng tại Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam là một cơ chế mới để phát hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà Cơ quan cạnh tranh có thể sử dụng. Điều này cũng khiến các thỏa thuận phi pháp trở nên rủi ro hơn, có nhiều khả năng bị phá vỡ hơn và buộc các doanh nghiệp phải cân nhắc đến việc liệu có nên tham gia vào các thỏa thuận với những kẻ có khả năng lừa đảo hay không.

Cơ chế khoan hồng lần đầu tiên được tại Luật cạnh tranh năm 2018, đây là một bước tiến quan trọng thể hiện sự nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

 Trên đây là bài viết do Luật Minh Khuê sưu tầm và tổng hợp về cơ chế khoan hồng trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam.