- 1. Vai trò của việc xây dựng và áp dụng chính sách khoan hồng tại Việt Nam
- 2. Nội dung quy định chính sách khoan hồng theo Luật Cạnh tranh 2018
- 3. Chính sách khoan hồng tại Mỹ
- 3.1. Chính sách miễn trừ
- 3.2. Các chính sách khoan hồng dành cho tổ chức, của nhân nộp đơn thứ hai
- 4. Một số đánh giá về nội dung chính sách khoan hồng theo quy định của Luật Cạnh tranh 2018
1. Vai trò của việc xây dựng và áp dụng chính sách khoan hồng tại Việt Nam
Thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh trên thế giới cũng như tại Việt Nam cho thấy cùng với sự nỗ lực và tăng cường các hoạt động điều tra, xử lý đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của các cơ quan cạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có xu hướng ngầm hóa. Điều này làm cho việc phát hiện và điều tra các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trở nên khó khăn, phức tạp hơn. Vì vậy, nhiều nước trên thế giới đã sử dụng chương trình khoan hồng như một công cụ quan trọng để phát hiện và điều tra, xử lý đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam chưa có quy định về chương trình khoan hồng. Các vụ thoả thuận hạn chế cạnh tranh được Cơ quan cạnh tranh phát hiện, điều tra và xử lý chủ yếu dựa trên các thông tin tự phát hiện hoặc được sự trợ giúp từ một số cơ quan truyền thông. Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam chỉ có quy định về các tình tiết giảm nhẹ áp dụng với các doanh nghiệp trong một số trường hợp nhất định. Tuy nhiên, sau hơn mười năm thực thi cho thấy quy định về tình tiết giảm nhẹ không giúp khám phá hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh do chưa tạo được động cơ và áp lực lớn để doanh nghiệp tham gia thỏa thuận trình báo và cung cấp thông tin về thỏa thuận mà họ tham gia. Hơn nữa, bản chất, mục tiêu của chính sách khoan hồng cũng có sự khác biệt so với các quy định về tình tiết giảm nhẹ.
Thực tiễn tại Việt Nam, sau khi một số vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị Cơ quan cạnh tranh phát hiện, điều tra và xử lý, các doanh nghiệp đã có nhận thức về các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Việc nhận thức pháp luật cao hơn một mặt có thể giúp doanh nghiệp nâng cao ý thức tuân thủ quy định của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, nhưng mặt khác, cũng khiến các doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở của pháp luật để thực hiện và cố ý che giấu hành vi vi phạm. Trên thực tế, vì mục tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp vẫn không từ bỏ thực hiện các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm, nhưng đã che giấu, không để lại hoặc tiêu hủy chứng cứ về thỏa thuận hoặc không tiết lộ thông tin ra bên ngoài. Điều đó đã tạo ra những thách thức lớn đối với cơ quan cạnh tranh trong việc phát hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Tại Việt Nam, kể từ sau khi điều tra, xử lý đối với hành vi thỏa thuận ấn định phí bảo hiểm vật chất xe ô tô giữa 19 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và vụ việc thỏa thuận ấn định phí bảo hiểm học sinh giữa 14 doanh nghiệp bảo hiểm tại địa bàn tỉnh Khánh Hòa như đã nêu, từ năm 2012 đến nay, Cơ quan quản lý cạnh tranh chưa phát hiện, điều tra được thêm bất kỳ vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nào khác. Thực tiễn cũng cho thấy các cơ chế phát hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hiện tại không còn nhiều tác dụng. Trong khi chính sách khoan hồng được nhiều cơ quan cạnh tranh trên thế giới coi là công cụ hữu hiệu, giúp phát hiện tới trên 90% số vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh xuyên biên giới, thì việc bổ sung quy định về chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam và áp dụng một cách hiệu quả trong thực tiễn là một yêu cầu đặt ra nhằm tăng cường phát hiện và điều tra vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
2. Nội dung quy định chính sách khoan hồng theo Luật Cạnh tranh 2018
3. Chính sách khoan hồng tại Mỹ
Tại Mỹ, chính sách khoan hồng lần đầu tiên được Bộ tư pháp (DOJ) của Mỹ giới thiệu năm 1978. Tại thời điểm này, chính sách khoan hồng chỉ áp dụng cho các tổ chức và chưa thực sự thành công cho đến khi được thay thế băng Chính sách khoan hồng cho tổ chức 1993 và Chính sách khoan hồng cho cá nhân 1994. Nguyên tắc chính của chính sách khoan hồng theo luật của Mỹ rất minh bạch và dễ dự đoán. Theo đó, việc miễn trừ các chế tài hình sự chỉ dành riêng cho những tổ chức, cá nhân nộp đơn trước. Những giảm trừ khác được áp dụng cho các tổ chức nộp đơn sau nhằm khuyến khích các tổ chức chủ động hợp tác với cơ quan nhà nước trong việc xử lý TTHC CT.
3.1. Chính sách miễn trừ
- Miễn trừ trách nhiệm hình sự sẽ được tự động phê chuẩn nếu doanh nghiệp tự báo cáo về hành vì TTHCCT trước khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra, đồng thời phải thỏa môn một số điều kiện bổ sung khác ("Bản tự báo cáo"). Giám đốc, nhân viên, người lao động của doanh nghiệp tự thủ nhân có liên quan đến hành vị TTHCCT của doanh nghiệp trong Bản từ báo cáo trên cũng được miễn trừ khỏi trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng được một số điều kiện cụ thể.
- Trong trường hợp không thỏa mãn các điều kiện tiên doanh nghiệp và có thể được phê chuẩn miễn trả truy tố trách nhiệm hình sự nếu doanh nghiệp vi phạm lâu đầu và tại thời điểm khác bảo, DOJ chôn tập hợp đầy đủ các chứng cử nhằm xác định vi phạm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc xác định doanh nghiệp có đáp ứng đủ các điều kiện để được miễn trẻ hay không phụ thuộc vào Sự suy xét của DOJ Khả năng được chấp thuận miền tốt đối với các giám đốc, nhân viên người lao động của doanh nghiệp cũng được xem xét dựa trên các căn cứ tương tự
Vì hiệu lực của chế độ miễn trừ chỉ giới hạn đối với biện pháp truy tố hình sự các doanh nghiệp được hưởng các chương trình khoan hồng
nghiệp được tung các dương trình kho hồng vẫn phải đối mặt với nguy cơ bồi thường cấp ba lầu thiệt hại iniple-damages) từ các khiếu nại đối bồi thường thiệt hại theo thủ tục tỏ rụng dẫn mn. Do đó, kể từ năm 2004, các tổ chưa nộp đơn xin khoan hồng chỉ có nghìn vụ pháp lý đối với những thiệt hại do họ gây ra và không phải chịu trách nhiệm licu cơi đối với các thiết loại cho các thành viên khác trong TTHCCT gây ra
- Chính sách khoan hồng cho cá nhân được áp dụng cho các cá nhân nộp đem lên DOI bằng tư cách cá nhân, không bao gồm trong Bản tự báo cáo của doanh nghiệp. Nhìn chung, các điều kiện để được phê chuẩn miễu t hình sự đối với cá nhân trong tự với các quy định miễn trở hình sự đối với doanh nghiệp. Một điều đáng chú ý là việc miễn thì không áp dụng cho các doanh nghiệp hoặc cả nhân ép buộc các bên khác tham gia vào việc thực hiện các hành vị trí pháp luật 301.
3.2. Các chính sách khoan hồng dành cho tổ chức, của nhân nộp đơn thứ hai
Theo chính sách khoa hồng của Mỹ, không có quy định giảm trừ cố định cho các doanh nghiệp, cơ nhân nộp đơn thứ hai mà tùy thuộc vào sự quyết định của DOJ trên cơ sở cân nhắc từng vụ việc cụ thể. Ở Mỹ, Tòa án sẽ dựa vào các nguyên tắc được nêu trong bộ Hướng dẫn quyết định hình phạt (Trong dẫn của Ủy ban quyết định hình phạt Hoa Kỳ lâm cầu cử để tuyển một bản ẩn có mức hình phạt thấp hơn tiớc hình phạt tối thiểu mà luật quy định nếu đương sự có những hỗ trợ lưu hiệu cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc điều tra. Xử lý TTHCCT. Theo thực tiễn áp dụng của DOJ, mức giảm lại dựa trên sự hợp tác đối với các doanh nghiệp nộp đơn thứ hai dao động khoảng 30% đến 35% so với mức phạt tối thiểu quy định tại Hướng dẫn
4. Một số đánh giá về nội dung chính sách khoan hồng theo quy định của Luật Cạnh tranh 2018
Công ty luật Minh Khuê (tổng hợp)