1. Có được trừ tiền chuyên cần khi lao động nghỉ đi khám thai không?
Khi tham gia bảo hiểm xã hội, một trong những đặc quyền mà phụ nữ mang thai đều được hưởng là chế độ khám thai. Lương chuyên cần là số tiền mà người sử dụng trả cho người lao động đã làm đủ công trong tháng, không vi phạm quy định làm việc trong một kỳ tính công. Theo định nghĩa này, tiền chuyên cần là một khoản bổ sung vào mức lương của người lao động trong quá trình làm việc tại công ty, và sự thanh toán cho khoản này không bắt buộc. Người lao động tự quyết định về điều kiện và mức độ hưởng lương chuyên cần.
Khám thai là một phúc lợi thuộc chương trình bảo hiểm mà phụ nữ lao động tự nhiên được hưởng. Tuy nhiên, về vấn đề liệu việc nghỉ khám thai có ảnh hưởng đến lương chuyên cần hay không, điều này phụ thuộc vào nội quy do doanh nghiệp đặt ra. Nếu nội quy yêu cầu đạt đủ ngày công trong tháng mới có thể nhận lương chuyên cần, thì việc nghỉ khám thai có thể dẫn đến việc bị trừ một phần lương chuyên cần trong tháng đó. Ngược lại, nếu doanh nghiệp cho phép tính chuyên cần cho những ngày nghỉ khám thai hoặc nghỉ theo chế độ bảo hiểm, thì người lao động sẽ không bị mất mát về lương chuyên cần.
Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp quy định rằng phải làm đủ số ngày công mới được hưởng lương chuyên cần. Việc nghỉ khám thai thường không được xem xét làm đủ điều kiện để nhận lương chuyên cần, bởi vì ngoài chi phí lương, doanh nghiệp còn phải đối mặt với nhiều mục tiêu kinh tế khác đòi hỏi đầu tư. Phụ cấp chuyên cần đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng thu nhập cho người lao động, và để tránh thiệt thòi về quyền lợi, khi tham gia làm việc hoặc ký kết hợp đồng lao động, người lao động nên cẩn thận tìm hiểu về nội quy và quy chế của công ty để hiểu rõ về quyền lợi của mình.
Vì vậy, để xác định liệu nghỉ khám thai có bị trừ chuyên cần hay không, quan trọng nhất là phải thận trọng kiểm tra quy chế và nội quy của doanh nghiệp:
- Trường hợp 1: Nếu doanh nghiệp áp đặt điều kiện là phải đạt đủ số ngày công trong tháng mới được nhận lương chuyên cần, người lao động nghỉ khám thai có thể phải đối mặt với việc bị trừ tiền chuyên cần trong tháng đó.
- Trường hợp 2: Trái lại, nếu doanh nghiệp cho phép tính chuyên cần khi nghỉ chế độ bảo hiểm, người lao động nghỉ khám thai có thể được miễn trừ tiền chuyên cần trong tháng đó.
Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp thường ưu tiên áp dụng theo trường hợp 1, với mục tiêu chung là giảm chi phí nhân sự để tập trung vào các mục tiêu kinh doanh quan trọng khác. Mặc dù phụ cấp chuyên cần có thể không lớn, nhưng đó cũng là một phần quan trọng giúp tăng thu nhập cho người lao động.
Để tránh thiệt thòi về quyền lợi, người lao động nên tìm hiểu kỹ về nội quy và quy chế của công ty nơi họ làm việc. Điều này giúp họ hiểu rõ về chính sách của doanh nghiệp liên quan đến lương chuyên cần khi nghỉ phép, đặt họ trong tình huống có kiến thức để đưa ra quyết định thông minh và đảm bảo quyền lợi của mình.
2. Nghỉ khám thai có bị trừ phép năm không?
Điều 32 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định rằng, trong thời kỳ mang thai, lao động nữ được nghỉ để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày. Trong trường hợp phải điều trị ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, hoặc khi có bệnh lý hoặc thai không bình thường, thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai (tính theo ngày làm việc, không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần). Tổng cộng, lao động nữ có thể nghỉ khám thai tối đa 10 ngày trong suốt thời kỳ mang thai.
Trong những ngày nghỉ này, công ty không trả lương cho lao động nữ mà thay vào đó, quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH) sẽ chi trả theo quy định tại Điều 39 của Luật Bảo hiểm xã hội. Mức hưởng khi đi khám thai được xác định bằng cách tính toán theo công thức: Mức hưởng một ngày = Số ngày nghỉ x (100% mức bình quân tiền lương tháng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản/24 ngày).
Để có chi trả, người lao động cần cung cấp giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH từ cơ sở y tế cấp. Tùy thuộc vào việc bạn xin được giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH hay không, có thể có hai trường hợp sau:
- Bạn xin được giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH: Trong trường hợp này, những ngày nghỉ khám thai không bị tính vào phép năm của bạn.
- Bạn không xin được giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH: Công ty không có thông tin xác nhận về việc bạn đã nghỉ khám thai hay không, do đó có thể trừ vào số ngày phép năm (nếu còn phép năm) hoặc yêu cầu nghỉ không lương nếu bạn đã hết phép.
3. Các quyền lợi cơ bản của lao động nữ trong doanh nghiệp được bảo vệ
Lao động nữ, theo quy định của pháp luật khi làm việc tại doanh nghiệp, được đảm bảo một số quyền cơ bản như sau:
Thứ nhất, lao động nữ không bị áp buộc phải làm thêm giờ hoặc tham gia công tác xa. Đối với những người đang mang thai từ tháng 7 hoặc từ tháng thứ 6 nếu làm việc ở những địa bàn đặc biệt như vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo, doanh nghiệp không được phép yêu cầu họ làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ, hoặc tham gia công tác xa.
Ngoài ra, quy định này cũng áp dụng đối với lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này không chỉ ràng buộc đối với việc điều chuyển công tác mà còn quy định rõ: Nếu lao động nữ đang mang thai ở tháng thứ 7 và đang làm công việc nặng nhọc, họ sẽ được chuyển sang làm công việc nhẹ nhàng hơn hoặc được giảm 01 giờ làm việc hàng ngày mà vẫn hưởng đầy đủ lương.
Trong trường hợp lao động vi phạm, sử dụng lao động có quyền áp dụng hình thức kỷ luật. Tuy nhiên, không được áp dụng kỷ luật đối với các đối tượng sau:
- Lao động nữ đang mang thai;
- Lao động nữ đang nghỉ thai sản;
- Lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Mọi hình thức kỷ luật, từ khiển trách đến cách chức hay sa thải, đều phải tuân theo nguyên tắc xử lý kỷ luật đúng quy định của luật. Tuy nhiên, khi hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng mà thời hạn xử lý kỷ luật đã hết, thì có thể kéo dài thời hạn nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn ban đầu.
Thứ hai, lao động nữ mang thai sẽ tiếp tục hưởng quyền được nghỉ khám thai với mức lương đầy đủ 100%.
Ngoài những quyền lợi được Bộ Luật Lao động quy định như đã được trình bày trước đó, quyền lợi của lao động nữ mang thai còn được thể hiện thông qua chế độ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.
Trong thời kỳ mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày. Trong trường hợp phải điều trị ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, hoặc khi có bệnh lý hoặc thai không bình thường, thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai. Thời gian nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản được tính theo ngày làm việc, không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Chế độ thai sản khi thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.
Lao động nữ sinh con sẽ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 6 tháng. Trong trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên, thời gian nghỉ sẽ được tính từ con thứ hai trở đi, với mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng.
Lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc để cho con bú, vắt sữa, và nghỉ ngơi. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
Cũng theo quy định, lao động nữ trong thời gian hành kinh sẽ được nghỉ mỗi ngày 30 phút, tối thiểu là 03 ngày trong một tháng. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Thời gian nghỉ cụ thể sẽ được thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ.
Thứ ba, lao động nữ sẽ giữ quyền không bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật. Luật lao động quy định rằng doanh nghiệp không được sa thải hoặc chấm dứt hợp đồng lao động đơn phương đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, hoặc nuôi con dưới 12 tháng.
Tuy nhiên, trên thực tế, một số doanh nghiệp, đặc biệt là những chủ sử dụng lao động, vẫn thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động với lao động nữ, đặc biệt là khi họ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng. Điều này không phải là hiếm, và để đảm bảo quyền lợi của mình khi tham gia lao động, người lao động nữ cần phải hiểu rõ các quy định pháp luật để tránh mâu thuẫn và tranh chấp với doanh nghiệp.
Ngược lại, nếu lao động nữ mang thai có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và chứng nhận có thể tiếp tục làm việc, việc này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quyền của thai nhi và có thể dẫn đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Thời hạn thông báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động phụ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.
Thứ tư, lao động nữ sẽ giữ quyền được ưu tiên nuôi con khi ly hôn, theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình. Luật quy định rằng con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ khi mẹ không đủ điều kiện chăm sóc hoặc có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Mặc dù mặc định là quyền nuôi con dưới 36 tháng thuộc về người mẹ, nhưng trong trường hợp người cha chứng minh được mẹ không đủ điều kiện, tòa án vẫn có thể giao con trực tiếp cho người cha nuôi dưỡng. Bộ Luật Lao động đã thể hiện sự quan tâm và ưu tiên của nhà nước đối với lao động nữ, tạo điều kiện để họ phát huy giá trị và đồng thời bảo vệ quyền lợi của họ trong môi trường lao động ngày càng cạnh tranh và biến động.
Bài viết liên quan: Nghỉ khám thai có được công ty trả lương không?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!