1. Có được ủy quyền cho người khác tố cáo không?

Dựa trên quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền tố cáo, công dân có quyền khiếu nại và tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân mà họ cho rằng trái pháp luật. Quyền này được mô tả cụ thể trong Luật Tố cáo năm 2018. Theo đó, tố cáo là quy trình mà cá nhân thực hiện theo quy định của luật, thông báo cho cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân có thẩm quyền về bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào, đe dọa hoặc gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân.

Theo quy định tại Điều 9 của Luật Tố cáo năm 2018 về Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người tố cáo được đảm bảo các quyền sau đây:

- Thực hiện quyền tố cáo theo quy định của Luật này;

- Được bảo đảm bí mật về họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác;

- Nhận thông báo về quá trình thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo, và kết luận về nội dung tố cáo;

- Có quyền tiếp tục tố cáo khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân có thẩm quyền không tuân thủ pháp luật hoặc vượt quá thời hạn quy định mà tố cáo chưa được giải quyết;

- Có quyền rút tố cáo;

- Có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo;

- Có quyền được khen thưởng và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Từ các quy định được trình bày trong Luật Tố cáo, có thể nhận thấy rằng hành động của cá nhân thông báo cho cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, liên quan đến việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó, thì được xác định là tố cáo. Điều này đồng thời yêu cầu rằng quá trình tố cáo phải tuân theo trình tự và thủ tục quy định trong Luật Tố cáo. Tuy nhiên, một vấn đề được đặt ra là liệu một cá nhân có thể ủy quyền cho người khác, hay nói cách khác, có thể thực hiện quyền tố cáo thay người khác không?

Trước hết, liên quan đến vấn đề ủy quyền, theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2015, ủy quyền là hành động của cá nhân hoặc pháp nhân (gọi chung là người ủy quyền) thực hiện việc trao quyền và vì lợi ích cá nhân hoặc pháp nhân khác (gọi chung là người nhận ủy quyền) để xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự. Cá nhân hoặc pháp nhân có thể thực hiện các giao dịch dân sự thông qua người ủy quyền, tuy nhiên, họ không được phép để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật yêu cầu họ phải tự mình thực hiện giao dịch đó. Quyền đại diện có thể được xác lập thông qua ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (đại diện theo ủy quyền), theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân, hoặc theo quy định của pháp luật (đại diện theo pháp luật).

Tuy nhiên, khi áp dụng quy định của Luật Tố cáo, điều này không rõ ràng khi Điều 9 của luật không cung cấp quy định cụ thể về việc người tố cáo có quyền ủy quyền cho người khác đại diện thay cho mình trong quá trình tố cáo. Do đó, người tố cáo không được phép ủy quyền việc tố cáo của mình cho một bên thứ ba theo cách được quy định (đại diện theo ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật) để thực hiện quyền này.

Đồng thời, dựa trên quy định của Điều 22 Luật Tố cáo 2018 về hình thức tố cáo, quy trình này có thể được thực hiện thông qua việc nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Trong trường hợp nhiều người tố cáo về cùng một nội dung, việc tố cáo có thể được thực hiện bằng cách nộp đơn hoặc tới cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để trình bày trực tiếp, tuy nhiên, chỉ người được cử làm "người đại diện cho những người tố cáo" mới có quyền thực hiện quy trình này. Điều này được đề cập trong Điều 23 của Luật Tố cáo, nơi quy định về việc tiếp nhận tố cáo thông qua "người đại diện cho những người tố cáo".

Trên thực tế, theo quy định của pháp luật, người được cử làm đại diện phải là một trong những người tố cáo và tất cả những người tố cáo phải thống nhất và xác nhận cử một người nào đó làm đại diện theo quy định của Luật Tố cáo. Quá trình cử "người đại diện cho những người tố cáo" không đòi hỏi bất kỳ thủ tục nào khác ngoài việc có xác nhận từ tất cả những người cùng tố cáo. Đơn giản nhất, điều này có nghĩa là cử một người từ nhóm những người tố cáo với cùng một nội dung tố cáo để làm đại diện, khác biệt với việc đại diện theo ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ Luật Dân sự như đã trình bày trước đó. Người này sẽ là người trực tiếp liên lạc và làm việc với cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân có thẩm quyền trong quá trình giải quyết tố cáo.

Do đó, dựa trên các quy định nêu trên, người tố cáo phải chịu trách nhiệm đối với nội dung của tố cáo mình. Trong trường hợp người tố cáo cố ý tố cáo sai sự thật, hình phạt sẽ phụ thuộc vào tính chất và mức độ của vi phạm, có thể bao gồm kỷ luật, xử phạt hành chính, hoặc thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, người tố cáo không được phép ủy quyền cho người khác thực hiện quyền tố cáo thay mặt mình. Thay vào đó, họ phải thực hiện quy trình tố cáo bằng cách nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền.

Mặc dù Luật Tố cáo không cung cấp hướng dẫn chi tiết về việc có thể ủy quyền cho người khác thực hiện việc tố cáo hay không, nhưng từ Điều 9 của Luật Tố cáo năm 2018 quy định về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, có thể hiểu rằng người tố cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với nội dung tố cáo của mình. Do đó, người tố cáo không có quyền ủy quyền cho người khác thực hiện hành vi tố cáo đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

 

2. Quy định về trình tự tố cáo

Căn cứ theo quy định Điều 28 Luật Tố cáo 2018 quy định về trình tự giải quyết tố cáo như sau:

- Thụ lý tố cáo.

- Xác minh nội dung tố cáo.

- Kết luận nội dung tố cáo.

- Xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo.

Do đó, khi bạn tố cáo, quy trình sẽ bao gồm bốn bước: Đầu tiên, tố cáo sẽ được tiếp nhận để thụ lý; thứ hai, cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện xác minh nội dung của tố cáo; thứ ba, sẽ có kết luận về nội dung tố cáo của bạn; và cuối cùng, cơ quan có thẩm quyền sẽ đưa ra kết luận về nội dung tố cáo từ người giải quyết tố cáo.

>> Xem thêm: Có cần phải công chứng văn bản ủy quyền khiếu nại không?

 

3. Quy định về thời gian giải quyết tố cáo

Dựa theo quy định của Điều 30 Luật Tố cáo năm 2018, thời hạn xử lý tố cáo được quy định như sau:

- Thời gian xử lý tố cáo không vượt quá 30 ngày tính từ ngày nhận tố cáo.

- Trong trường hợp vụ án phức tạp, có thể kéo dài thời gian xử lý một lần nhưng không quá 30 ngày.

- Đối với các trường hợp đặc biệt phức tạp, thời gian xử lý có thể được kéo dài hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày.

- Quyết định về việc kéo dài thời gian xử lý tố cáo và thông báo liên quan được thực hiện bằng văn bản, được thông báo đến người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan, tổ chức, và cá nhân có liên quan.

- Chi tiết về quy định này sẽ được Chính phủ quy định một cách cụ thể.

Do đó, dựa vào quy định trên, thời gian xử lý tố cáo của bạn sẽ không vượt quá 30 ngày tính từ ngày thụ ký đơn tố cáo.

Ngoài ra, trong các trường hợp đặc biệt phức tạp, cơ quan có thẩm quyền có khả năng kéo dài thời gian giải quyết tố cáo, nhưng không vượt quá 30 ngày, theo quy định của Điều 3 Nghị định 31/2019/NĐ-CP, hướng dẫn Luật Tố cáo về thời hạn giải quyết tố cáo.

Theo khoản 2 và 3 của Điều 3 Nghị định 31/2019/NĐ-CP, vụ việc phức tạp được xác định khi có một trong những tiêu chí sau:

- Tố cáo liên quan đến một nội dung nhưng phải xác minh từ 02 địa điểm trở lên;

- Tố cáo có từ 02 nội dung trở lên cần xác minh;

- Nhiều người tố cáo về cùng một nội dung hoặc nội dung tố cáo liên quan đến quyền và lợi ích của nhiều người;

- Tố cáo có yếu tố nước ngoài, bao gồm người tố cáo hoặc bị tố cáo ở nước ngoài, hành vi xảy ra ở nước ngoài, và nội dung tố cáo cần xác minh ở nước ngoài;

- Nội dung tố cáo liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức;

- Các cơ quan, tổ chức liên quan trong quá trình giải quyết tố cáo có ý kiến khác nhau;

- Có tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn cần thời gian kiểm tra, xác minh, đánh giá hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn.

Vụ việc đặc biệt phức tạp được định nghĩa là vụ án có từ 02 tiêu chí trở lên, như được quy định tại khoản 3 của Điều này.

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Bài viết liên quan: Mẫu đơn tố cáo mới nhất và Cách viết đơn tố cáoXin trân trọng cảm ơn!