1. Quyền của cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật

Căn cứ dựa theo quy định tại khoản 1 Điều 62 Luật Bảo vệ kiểm dịch thực vật 2013 có quy định cụ thể như sau về quyền của cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật

Các quyền của cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật theo Luật Bảo vệ thực vật gồm:

- Sản xuất thuốc trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam: Cơ sở sản xuất được quyền sản xuất các loại thuốc bảo vệ thực vật được liệt kê trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam. Quyền sản xuất thuốc bảo vệ thực vật trong Danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam là một trong những quyền cơ bản của cơ sở sản xuất thuốc. Điều này giúp đảm bảo rằng các sản phẩm được sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn và yêu cầu an toàn cần thiết, và chúng có thể được sử dụng một cách hợp pháp trong lĩnh vực bảo vệ thực vật. Việc liệt kê trong Danh mục là một cách để kiểm soát và quản lý việc sử dụng các chất phòng trừ bệnh, sâu bệnh trong nông nghiệp và bảo vệ thực vật một cách hiệu quả.

- Nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật để sản xuất hoặc tái xuất theo hợp đồng ký kết với nước ngoài: Cơ sở sản xuất có quyền nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật từ nước ngoài để sử dụng trong quá trình sản xuất, hoặc để xuất khẩu theo các hợp đồng đã ký kết với đối tác quốc tế. Theo đó thì việc cho phép nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật hoặc tái xuất thì giúp cho các cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật có thể sử dụng để sản xuất hoặc là tái xuất theo những quy định của pháp luật đưa ra. Quyền nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật từ nước ngoài là một trong những quyền của cơ sở sản xuất thuốc. Điều này cho phép cơ sở sản xuất có khả năng nhập khẩu các nguyên liệu, thành phần hoặc sản phẩm từ quốc tế để sử dụng trong quá trình sản xuất thuốc bảo vệ thực vật. Đồng thời, cơ sở sản xuất cũng có quyền xuất khẩu các sản phẩm đã được sản xuất theo các hợp đồng ký kết với đối tác quốc tế. Quyền nhập khẩu và xuất khẩu giúp tạo ra sự đa dạng trong nguồn cung cấp nguyên liệu và sản phẩm, cũng như tăng cường cơ hội kinh doanh và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, việc này cũng cần tuân thủ các quy định và điều kiện liên quan đến an toàn, chất lượng và quản lý rủi ro để đảm bảo rằng các sản phẩm nhập khẩu và xuất khẩu đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và quy định nội địa.

- Thông tin, quảng cáo thuốc bảo vệ thực vật theo quy định: Cơ sở sản xuất có quyền công bố thông tin và quảng cáo về các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quảng cáo phải tuân theo các quy định về an toàn, hiệu quả và không gây hiểu lầm cho người sử dụng. Quyền nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật từ nước ngoài là một trong những quyền của cơ sở sản xuất thuốc.

- Các quyền khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan: Cơ sở sản xuất còn có các quyền khác theo quy định của Luật Bảo vệ thực vật và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất và kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật.

Những quyền này giúp bảo vệ quyền và lợi ích của cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời đảm bảo an toàn và hiệu quả trong sử dụng các sản phẩm này.

2. Nghĩa vụ của cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật

Quy định về nghĩa vụ của cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật thì được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 62 Luật bảo vệ kiểm dịch thực vật 2013 có quy định một cách cụ thể, theo đó thì nghĩa vụ của các cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật bao gồm: 

- Cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật phải đúng quy chuẩn kỹ thuật quốc và và đáp ứng tiêu chuẩn cơ sở do cơ sở sản xuất thuốc công bố. 

-Cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật sử dụng người lao động trực tiếp sản xuất thuốc bảo vệ thực vật phải đảm bảo được sức khỏe và được đào tạo bồi dưỡng về an toàn lao động và chuyên môn theo quy định của pháp luật.

- Có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về chất lượng thuốc và chỉ được phép xuất xưởng, lưu thông trên thị trường thuốc đạt chất lượng. Cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật chính là đối tượng phải chịu trách nhiệm về chất lượng của thuốc và họ chỉ được phép xuất xưởng lưu thông trên thị trường nếu như thuốc đạt chất lượng, nếu như thuốc không đạt chuẩn và vẫn cố tình lưu thông bán ra thị trường thì cá nhân này sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật đưa ra đối với hành vi vi phạm này. 

- Cung cấp tài liệu cần thiết cho việc thanh tra và kiểm tra của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Việc kiểm tra này là cần thiết để đảm bảo rằng cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật tuân thủ các quy định của pháp luật về kiểm dịch thực vật cũng như về môi trường

- Bồi thường thiệt hại trong trường hợp do lỗi của cơ sở sản xuất. Theo đó thì về nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì cá nhân nào gây ra thiệt hại và có lỗi thì sẽ có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. 

- Thực hiện thu hồi khi nhận thấy rằng thuốc bảo vệ thực vật không đảm bảo yêu cầu. Nếu cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật nhận thấy rằng thuốc bảo vệ thực vật không đảm bảo yêu cầu khi đưa ra sử dụng thì ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng của cây trồng và sức khỏe con người thì cần phải tiến hành thu hồi những lô thuốc bảo vệ thực vật đó, việc này cũng góp phần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của cá nhân đối với việc bảo vệ môi trường và sức khỏe của người tiêu dùng. 

- Chủ cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật phải tiến hành tổ chức tập huấn, hướng dẫn sử dụng và phòng ngừa sự cố do thuốc bảo vệ thực vật gây ra khi sử dụng. Bồi dưỡng và tập huấn chuyên môn cho người lao động trực tiếp sản xuất thuốc bảo vệ thực vật

- Chấp hành quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, hóa chất, lao động, môi trường

- Thực hiện các quy định của pháp luật về thuế bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan. 

3. Trách nhiệm bồi thường của cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật khi có lỗi

Bồi thường thiệt hại là một trong những thuật ngữ không còn quá là xa lạ đối với chúng ta, bồi thường thiệt hại là việc mà cá nhân gây thiệt hại sẽ có trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại do lỗi của mình gây ra trong những trường hợp như thế này, theo đó thì đây là một trong những trách nhiệm vô cùng cần thiết và cần được thực hiện nhằm bảo đảm tốt nhất các quyền lợi của người tiêu dùng trên thị trường. 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 62 Luật bảo vệ kiểm dịch thực vật 2013 có quy định cụ thể về nghĩa vụ của các cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, theo đó thì có quy định cụ thể rằng "Bồi thường thiệt hại trong trường hợp lỗi của cơ sở sản xuất theo quy định của pháp luật". Tức là cơ sở sản xuất chỉ phải chịu trách nhiệm do lỗi của cơ sở sản xuất gây ra và họ hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm về hành vi thiệt hại do lỗi của nhà phân phối, hay do lỗi của chính khách hàng gây ra. Điều này không chối bỏ đi trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật mà chỉ quy định rõ rằng cơ sở sản xuất bảo vệ thực vật sẽ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu như họ có lỗi, nếu không có lỗi thì không phải bồi thường thiệt hại, đây là nguyên tắc cơ bản trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Vui lòng liên hệ 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn

Tham khảo thêm: Buôn bán thuốc bảo vệ thực vật cần có điều kiện gì?