1. Thực hiện nghĩa vụ giao vật

Theo Điều 279 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 279. Thực hiện nghĩa vụ giao vật

1. Bên có nghĩa vụ giao vật phải bảo quản, giữ gìn vật cho đến khi giao.

2. Khi vật phải giao là vật đặc định thì bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó và đúng tình trạng như đã cam kết; nếu là vật cùng loại thì phải giao đúng số lượng và chất lượng như đã thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận về chất lượng thì phải giao vật đó với chất lượng trung bình; nếu là vật đồng bộ thì phải giao đồng bộ.

3. Bên có nghĩa vụ phải chịu mọi chi phí về việc giao vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Trong quan hệ nghĩa vụ hình thành loại nghĩa vụ giao vật, pháp luật quy định bên nào có nghĩa vụ giao vật phải bảo quản, giữ gìn vật cho đến khi giao. Quy định này hướng tới việc nâng cao tính trách nhiệm của bên có nghĩa vụ giao vật, đồng thời ghi nhận sự hợp lý khi người có nghĩa vụ giao vật đang là người thực tế nắm giữ, chiếm giữ vật đó. Lúc này, họ có điều kiện để bảo quản, giữ gìn vật tốt hơn những chủ thể khác, đặc biệt là bên có quyền.

- Cụ thể hóa từng loại vật, pháp luật quy định:

+ Khi bên có nghĩa vụ phát sinh nghĩa vụ giao vật đặc định - vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí thì phải giao đúng vật đó. Việc bàn giao vật đặc định phải đúng tình trạng như đã cam kết;

+ Khi giao vật cùng loại - vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường phải giao đúng số lượng, chất lượng như đã thỏa thuận. Neu các bên không có thỏa thuận về chất lượng thì phải giao vật đó với chất lượng trung bình;

+ Khi nghĩa vụ phải giao vật đồng bộ - vật bao gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần, bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.

Bên có nghĩa vụ phải chịu mọi chi phí về việc giao vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Nghĩa vụ trả tiền được thực hiện như thế nào?

Khi quan hệ nghĩa vụ phát sinh nghĩa vụ trả tiền, pháp luật ghi nhận việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền tại Điều 280 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Nghĩa vụ trả tiền có thể phát sinh trên cơ sở thỏa thuận hoặc pháp luật quy định, khi một bên trong quan hệ nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền phải thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận. Ví dụ: A và B có ký kết hợp đồng thuê tài sản, theo đó, A đã chuyển giao tài sản thuê cho B, B đã thanh toán cho A một phần số tiền thuê, còn phần còn lại có thỏa thuận thanh toán theo đợt. Theo thỏa thuận này, B sẽ phải thanh toán đấy đủ số tiền còn lại đúng thời hạn, địa điểm và phương thức mà các bên đã đề ra.

Khi các bên có thỏa thuận phát sinh lãi - khoản tiền tăng lên được xác định theo số tiền chưa trả, thời hạn và lãi suất tương ứng phù hợp quy định của pháp luật, bên có nghĩa vụ trả tiền sẽ phải trả cả khoản tiền phát sinh trong quan hệ nghĩa vụ và lãi trên nợ gốc, nếụ các bên không có thỏa thuận khác.

3. Nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không thực hiện một công việc

Khi các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định nghĩa vụ của một bên là công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc thì nghĩa vụ đó phải được thực hiện như quy định tại Điều 281 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 281. Nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc

1. Nghĩa vụ phải thực hiện một công việc là nghĩa vụ mà theo đó bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng công việc đó.

2. Nghĩa vụ không được thực hiện một công việc là nghĩa vụ mà theo đó bên có nghĩa vụ không được thực hiện công việc đó.

Thuật ngữ “công việc” có thể hiểu là một dạng hoạt động cụ thể mà một bên mong muốn xác lập quan hệ nghĩa vụ để bên còn lại thực hiện hoạt động này. Hoạt động này có thể thông qua hoặc không thông qua hành vi cụ thể. Và qua hoạt động này, bên yêu cầu có thể thỏa mãn được các nhu cầu về lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần. Do đó, công việc phải thực hiện được hiểu là những hoạt động thể hiện thông qua hành vi cụ thể. Ví dụ: Hoạt động tư vấn pháp lý trong hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp lý, hoạt động gửi giữ, gia công, vận chuyển... Như vậy, khi các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định đối tượng của quan hệ nghĩa vụ là công việc phải thực hiện thì bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng công việc đó.

Công việc không được thực hiện là những hoạt động không thông qua hành vi - tức là thể hiện dưới dạng không hành động cụ thể. Hoạt động này cũng sẽ là đối tượng của quan hệ nghĩa vụ khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định mà thông qua hoạt động này, một trong các bên có được những quyền và lợi ích của mình. Khi các bên thỏa thuận nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở một chủ thể nào đó không được thực hiện một công việc là nghĩa vụ mang lại lợi ích cho bên có quyền thì bên có nghĩa vụ sẽ không được thực hiện công việc đó. Ví dụ: A thỏa thuận với B. Theo đó, B sẽ không được xây dựng bức tường rào bên phía nhà B để tránh trường hợp tầm nhìn nhà A bị che khuất, thay vào đó, A chấp nhận bỏ chi phí để hoàn thiện hàng rào bằng dây thép gai để xác định ranh giới giữa hai nhà.

4. Có thể ủy quyền cho người khác thực hiện nghĩa vụ thay cho mình không?

Để khuyến khích và đảm bảo các giao dịch dân sự diễn ra phù hợp với ý chí của các bên, pháp luật cho phép đối với một số loại giao dịch mà không nhất thiết phải do người có nghĩa vụ đích thân thực hiện thì người đó có thể ủy quyền cho người khác thực hiện giúp. Tuy nhiên, việc ủy quyền như vậy phải đi kèm với những điều kiện nhất định.

Tại Điều 283 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:

Điều 283. Thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba

Khi được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

Thứ nhất, việc ủy quyền phải được người có quyền đồng ý. Pháp luật không quy định việc đồng ý của bên có quyền có phải thể hiện dưới hình thức bằng văn bản không hay chỉ cần bằng lời nói. Do vậy, chúng ta có quyền hiểu rằng sự đồng ý không nhất thiết phải lập bằng văn bản. Tuy nhiên, việc yêu cầu bên có quyền đồng ý bằng văn bản sẽ dễ chứng minh khi phát sinh tranh chấp giữa các bên.

Thứ hai, mặc dù đã giao người khác thay mình thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền nhưng trong trường hợp người thứ ba được ủy quyền không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ với bên có quyền thì bên có nghĩa vụ đã ủy quyền vẫn phải trịu trách nhiệm dân sự với bên có quyền. Bên có quyền vẫn có quyền yêu cầu bên nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ dân sự hoặc phải bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận. Quy định này nhằm bảo vệ bên có quyền khỏi tình trạng bên có nghĩa vụ tìm cách trốn tránh nghĩa vụ của mình bằng việc đẩy trách nhiệm cho người thứ ba.

Trong thực tế cuộc sống ta có thể dễ dàng gặp các trường hợp ủy quyền này như: ủy quyền thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Trả nợ ngân hàng, nộp tiền lại ngân hàng...; ủy quyền thực hiện nghĩa vụ thực hiện một công việc: Giao hàng, xây lắp, thực hiện nghĩa vụ tham gia tố tụng dân sự....

Tuy nhiên, có một số loại nghĩa vụ phải do đích thân người có nghĩa vụ thực hiện chứ không thể thực hiện thông qua người thứ ba được ủy quyền, đó là các nghĩa vụ liên quan đến nhân thân như nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc của vợ, chồng, nghĩa vụ của con cái đối với cha, mẹ, nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác... Các chủ thể mang nghĩa vụ không thể lại ra lý do là đã ủy quyền cho người khác để mình không phải thực hiện nghĩa vụ này.

5. Thế nào là thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ

“Định kỳ” hay “định hạn” là kỳ hạn đã định. Còn “kỳ hạn” nghĩa là giao ước trong một khoảng thì giờ nhất định. Như vậy việc thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ có thể được hiểu là người mang nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong một khoảng thời gian nhất định, khoảng thời gian này có tính chất lặp đi lặp lại. Khoảng thời gian có hạn định và có tính chất lặp lại theo kỳ để thực hiện nghĩa vụ.

Thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ được quy định tài Điều 282 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 282. Thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ

Nghĩa vụ được thực hiện theo định kỳ theo thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Việc chậm thực hiện nghĩa vụ theo từng kỳ cũng bị coi là chậm thực hiện nghĩa vụ.

Như vậy, việc thực hiên nghĩa vụ theo định kỳ sẽ do các bên thỏa thuận. Các bên tham gia quan hệ nghĩa vụ thỏa thuận được đưa ra một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện nghĩa vụ mà các bên thống nhất được ý chí với nhau hoặc chấp thuận ý chí của nhau. Ví dụ khi ly hôn, cha mẹ có thỏa thuận là hàng tháng người cha có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con một khoản tiền là 2 triệu cho đến khi người con đủ 18 tuổi.

Ngoại ra thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ còn theo quy định của pháp luật, đây là các trường hợp có sự can thiệp ý chí bởi Nhà nước bằng các quy định của pháp luật chẳng hạn pháp luật đất đai quy định doanh nghiệp được nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm có trách nhiệm trả tiền thuê đất hàng năm.

Thực hiện nghĩa vụ theo định kỳ theo quy định của cơ quan có thẩm quyền, cũng tương tự như trường họp pháp luật quy định ở đây có sự can thiệp ý chí bởi Nhà nước cho phép các cơ quan có thẩm quyền được quyết định ra một kỳ hạn hợp lý mà các bên phải tuân theo, chẳng hạn Tòa án yêu cầu người bố phải trả tiền cấp dưỡng hàng tháng....

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.