1. Có thể khởi kiện ra Tòa án khi đã thỏa thuận trọng tài thương mại không?

Theo Điều 6 của Luật Trọng tài Thương mại 2010, quy định rằng Toà án sẽ từ chối thụ lý trong những tình huống mà các bên tranh chấp đã có thoả thuận về việc sử dụng trọng tài. Trong trường hợp một bên đưa vụ án ra tòa mặc dù đã có thoả thuận trọng tài, Toà án buộc phải từ chối thụ lý, trừ khi thoả thuận trọng tài đã trở nên vô hiệu hoặc không thể thực hiện được.
Quy định này nhấn mạnh sự tôn trọng đối với thoả thuận trọng tài đã được các bên thực hiện, và Toà án không can thiệp vào quyết định của họ trừ khi có những điều kiện cụ thể. Điều này nhằm bảo vệ quyền tự chủ của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp và khuyến khích việc sử dụng phương pháp trọng tài để giảm bớt gánh nặng cho hệ thống tư pháp chính thức.
Theo Điều 43 Luật Trọng tài Thương mại 2010, khoản 1 quy định về việc xem xét thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được. Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài có trách nhiệm kiểm tra hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, đảm bảo rằng thỏa thuận có khả năng thực hiện và xác định thẩm quyền của mình. Nếu vụ án nằm trong thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, quá trình giải quyết tranh chấp sẽ được tiến hành theo quy định của Luật.
Trong trường hợp thỏa thuận trọng tài đã trở nên vô hiệu hoặc không thể thực hiện được, Hội đồng trọng tài sẽ quyết định đình chỉ việc giải quyết và thông báo cho các bên biết ngay lập tức. Nếu trong quá trình giải quyết tranh chấp, các bên phát hiện Hội đồng trọng tài vượt quá thẩm quyền, họ có quyền khiếu nại và Hội đồng trọng tài sẽ có trách nhiệm xem xét và quyết định.
Luật cũng đề cập đến trường hợp mà Trung tâm trọng tài đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa. Các bên có thể thỏa thuận chọn Trung tâm trọng tài khác hoặc, nếu không thỏa thuận được, họ có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết tranh chấp.
Ngoài ra, Luật cũng quy định về việc thay đổi Trọng tài viên trọng tài vụ việc trong trường hợp sự kiện bất khả kháng, cũng như sự không rõ hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể trong thoả thuận trọng tài. Các bên được yêu cầu thỏa thuận lại về những điều này khi có tranh chấp; nếu không thỏa thuận được, quyết định sẽ được đưa ra theo yêu cầu của nguyên đơn. Điều này làm đảm bảo rằng quy trình trọng tài được thực hiện một cách công bằng và linh hoạt, đồng thời tôn trọng quyền tự chủ của các bên liên quan.
 

2. Thỏa thuận trọng tài thương mại bị vô hiệu trong những trường hợp nào?

Theo Điều 3 của Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, quy định về trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu, điều này rõ ràng đề cập đến những trường hợp cụ thể mà thoả thuận trọng tài sẽ được coi là vô hiệu. Khi xem xét nội dung thoả thuận trọng tài vô hiệu, cần lưu ý đến các điều sau đây:
- Tranh chấp nằm ngoài thẩm quyền của Trọng tài: Theo khoản 1 của Điều 18 Luật TTTM, thoả thuận trọng tài không có hiệu lực nếu được thiết lập để giải quyết tranh chấp không thuộc lĩnh vực quy định tại Điều 2 Luật TTTM.
- Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền: Khoản 2 của Điều 18 quy định rằng thoả thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập là vô hiệu. Tuy nhiên, nếu người có thẩm quyền xác lập thoả thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc biết mà không phản đối trong quá trình xác lập hoặc tố tụng trọng tài, thoả thuận vẫn được coi là có hiệu lực.
- Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự: Khoản 3 của Điều 18 Luật TTTM đề cập đến trường hợp người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự, bao gồm người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực. Để chứng minh điều này, cần có giấy tờ tài liệu chứng minh ngày tháng năm sinh, kết luận của cơ quan có thẩm quyền hoặc quyết định của Tòa án xác định, tuyên bố về tình trạng năng lực hành vi dân sự của người đó.
- Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp: Khoản 4 của Điều 18 nêu rõ rằng thoả thuận trọng tài không có hiệu lực nếu không được xác lập bằng một trong các hình thức quy định tại Điều 16 Luật TTTM và hướng dẫn tại Điều 7 của Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP,.
- Bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài: Khoản 5 của Điều 18 Luật TTTM xác định rằng thoả thuận trọng tài không có hiệu lực nếu một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép theo quy định tại Điều 4 và Điều 132 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Thoả thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật: Khoản 6 của Điều 18 Luật TTTM quy định rằng thoả thuận trọng tài vô hiệu nếu vi phạm điều cấm của pháp luật, theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật dân sự.
Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của tính minh bạch, thẩm định và tuân thủ quy định pháp luật trong quá trình xây dựng thoả thuận trọng tài để đảm bảo tính công bằng và hiệu lực của quá trình trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại.
 

3. Quy định pháp luật về các trường hợp thỏa thuận trọng tài bị coi là không thể thực hiện

Theo Điều 4 của Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, quy định về các trường hợp mà thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, các trường hợp sau đây được xác định là khi thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được theo quy định tại Điều 6 Luật TTTM:
- Chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài: Trong trường hợp các bên đã có thoả thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể, nhưng Trung tâm này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thống nhất về việc chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp.
- Trọng tài viên không thể tham gia: Nếu các bên đã có thoả thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp. Hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên theo thỏa thuận, và các bên không đồng thuận về việc chọn Trọng tài viên khác để thay thế.
- Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định: Trong trường hợp các bên đã có thoả thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không đồng thuận về việc chọn Trọng tài viên khác để thay thế.
- Áp dụng quy tắc tố tụng không phù hợp: Trường hợp các bên thoả thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài, nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác, không tuân theo Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đã thoả thuận. Điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên chọn không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác, và các bên không đồng thuận về việc chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế.
- Người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài: Trong trường hợp nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có thoả thuận về thỏa thuận trọng tài trong điều khoản chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ. Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp, làm thoả thuận trọng tài trở nên không thể thực hiện được.
Điều này nhấn mạnh về sự quan trọng của việc duy trì tính minh bạch và tuân thủ quy định pháp luật trong quá trình lựa chọn và thực hiện thoả thuận trọng tài, nhằm đảm bảo rằng quá trình giải quyết tranh chấp được thực hiện một cách công bằng và hiệu quả.
 

Xem thêm bài viết: Khởi kiện, thông báo đơn khởi kiện, tự bảo vệ, kiện lại đối với tố tụng trọng tài thương mại

Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn pháp luật