1. Có tội môi giới chiếm đoạt tài sản không ?

Thưa luật sư: Tôi có người bạn muốn xin việc làm, lúc đó tôi có gặp 1 người quen người đó bảo có thể xin được việc làm cho bạn của tôi,nên tôi đã liên lạc với bạn của tôi để 2 người gặp mặt,trước đó người quen của tôi có nói với tôi là cần 50triệu để nói chuyện với người ta,nên tôi cũng nói với bạn tôi như thế, khi bạn tôi vào gặp người quen của tôi để đưa tiền thì tôi cũng có mặt.
Nhưng đợi mãi không thấy người quen của tôi xin được việc thì bạn của tôi muốn kiện người quen của tôi để lấy lại tiền, vậy xin cho tôi hỏi nếu bạn tôi kiện người quen của tôi thì tôi có bị xem là tội môi giới chiếm đoạt tài sản không? xin nói rõ là tôi không có nhận bất cứ gì cả, tôi chỉ nghĩ là giúp bạn tôi xin được việc làm thôi. Xin luật sư tư vấn tôi biết trong trường hợp của tôi thì có liên quan hay không ?
Xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào các thông tin bạn cung cấp xin tư vấn cho bạn như sau:

Trường hợp của bạn thì vì bạn chỉ đứng ra là người giới thiệu cho bạn của bạn và bạn không nhận bất kỳ một khoản tiền nào thì như vậy bạn không phải là người môi giới . Và đương nhiên bạn sẽ chẳn có trách nhiệm gì đối với họ trong trường hượp này. có chẳn bạn chỉ là người làm chứng đứng ra chứng thực cho giao dịch này. Và đương nhiên trong trường hợp này nếu bạn của bạn đi kiện bên kia thì bạn có thể đứng ra làm chứng để bảo vệ quyền lợi cho ban của bạn

Trường hợp này bạn của bạn có thể đứng ra yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự trách nhiệm thực hiện hợp đồng của bên nhận tiền theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Thứ hai nếu có căn cứ cho rằng người nhận tiền đó đã nhận tiền bạn của bạn nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản và không thực hiện nghĩa vụ như trong hợp đồng thì sẽ có thể xem xét để xác định có đủ yếu tố liên quan đến lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không:

Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng.

Lưu ý: Gian dối là đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không phải mọi hành vi gian dối đếu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Hậu quả: Người phạm tội đã chiếm được tài sản (hoặc giữ được tài sản trong trường hợp dùng thủ đoạn gian dối trao tài sản nhưng lại không trao)

>> Nếu nhận thấy có dấu hiệu tội phạm thì ban của bạn có thể ra cơ quan công an gần nhất để tố cáo tội phạ đòi lại số tiền của mình.

2. Hỏi về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Chào Luật Minh Khuê! Trước đây tôi có đi tập gym và quen một cô cũng là khách tập ở trên đấy, qua vài lần nói chuyện xã giao cô ấy có hẹn tôi đi uống cafe để nói chuyện, tôi cũng nể cô ấy là người có tuổi và đàng hoàng cho nên tôi cũng nhận lời hẹn của cô ấy.
Trước đây tôi có đi tập gym và quen một cô cũng là khách tập ở trên đấy , qua vài lần nói chuyện xã giao cô ấy có hẹn tôi đi uống cafe để nói chuyện , tôi cũng nể cô ấy là người có tuổi và đàng hoàng cho nên tôi cũng nhận lời hẹn của cô ấy, Sau buổi đi uống cafe , cô ấy có nhờ tôi là khuyên bảo con gái cô ấy vì cô ấy nói nó ko nghe lời , và cho tôi số điện thoại của nó để tôi tiện liên lạc , vì lúc đấy tôi là người mới nên ko biết tí gì về cô ta , cũng như con gái của cô ấy là người như thế nào , cho nên tôi đã nhận lời giúp cô ấy .
Tôi cũng đã gọi điện cho con gái cô ấy và chủ động hẹn mời đi uống nước , thì nó bảo vs tôi là giờ e đang bận chưa thể gặp a đc , khi nào có thời gian e sẽ liên lạc vs a sau, từ sau cuộc gọi đó tôi ko hề gọi cho nó nữa , cho đến một hôm nó nhắn tin vào zalo của tôi vs nội dung là e đang có việc cần muốn nhờ a giúp , e đang cần tiền để lấy hàng buôn bán vào dịp Tết , a có cho e mượn 10tr , đúng 1 tuần sau em sẽ trả cho anh. Vì cứ nghĩ nó là con gái , vs lại tôi cũng quen biết mẹ nó nên tôi đã ko nghi ngờ gì và gửi tiền cho nó qua tài khoản BIDV có chứng tờ biên lai rõ ràng , chứ tôi ko chuyển trực tiếp tiền mặt cho nó, sau khi đã chuyển cho nó 10 triệu đồng vào tài khoản , thì 4 ngày sau nó lại nhắn tin cho tôi vs nội dung là "khách chưa thanh toán tiền hàng cho e , mà e lại cần tiền để lấy thêm lô hàng mới nữa , vì vậy anh gửi tiếp cho e 10 triệu , đúng 3 ngày sau e sẽ thanh toán cho a một thể, tôi cũng ko nghi ngờ gì và gửi tiếp cho nó 10 triệu vào tài khoản , đến ngày hẹn trả tôi liên lạc vs nó thì nó ko trả lời và tắt máy ko dùng thuê bao đấy nữa.
Vì vậy tôi đã đến gặp mẹ nó trình bày sự việc và cho bà ấy xem giấy tờ chuyển tiền qua ngân hàng để xác minh vs bà ấy là con gái bà ấy có vay tiền của tôi , nhưng bà ấy lại tránh né và ko muốn giải quyết chuyện tiền nong vs tôi và bảo vs tôi là con gái bà ấy giờ bỏ trốn ko ở cùng vs gia đình nữa, từ lúc tôi cho nó vay tiền tính ra là được 4 tháng rồi nhưng sự việc cứ kéo dài mãi như vậy mà chưa có phương án giải quyết , cho nên tôi muốn hỏi luật sư là hành vi trên có phải là lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản hay ko? và tôi có nên ra phường cư trú của nó để làm đơn khiếu nạ va tố cáo hay không ?
Xin luật sư hãy tư vấn giúp tôi Tôi xin chân thành và cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định của pháp Luật về Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau::

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy, trong trường hợp của bạn Con gái của Cô bạn tập gym cùng bạn đã vay mượn số tiền 20 triệu đồng qua 2 lần vay bằng hình thức giao kết hợp đồng bằng lời nói. Sau đó cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ: tắt máy, thay số.

Hơn nữa theo quy định tại Khoản 3 Điều 20 Luật hình sự có quy định:

" Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự kết cấu chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm"

Xét trong trường hợp của bạn 2 mẹ con cô ấy đã câu kết với nhau để thực hiện hành vi lừa đảo: bà mẹ đã tiếp cận và tạo điều kiện để bạn có số cô con gái, và tỏ ra không thiện chí sau khi biết cô con gái của mình có hành vi trốn tránh trách nhiệm trả nợ.

Từ những phân tích trên, chúng tôi kết luận hành vi của cô con gái có dấu hiệu phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có tình tiết tăng nặng là Phạm tội có tổ chức.

Về thẩm quyền xét xử, theo quy định tại khoản 1 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định:

Điều 268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án

1. Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm:

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật hình sự;

d) Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Vậy bạn có thể tố cáo hành vi tại cơ quan công an hoặc khởi kiện dân sự tại Tòa án nhân dân Quận/Huyện nơi bị đơn cư trú để được các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và xử lý vụ việc.

3. Lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, xin tư vấn: Em xin kể lại toàn bộ quá trình sự việc như sau: em chơi thân với người bạn từng giúp đở nhau khi ai túng thiếu. Em có cho người bạn đó mượn tiền khi bạn đó cần. Và khi e khó khăn người bạn đó đã đưa cho mượn 1 điện thoại di dộng cầm lấy tiền là 2.500.000 đồng và nói thỏa thuận lúc nào có thì chuộc lại trả.
Đến vài ngày sau người bạn đó bị gia đình la mắng và đã viết đơn khởi kiện. Khi nhận được thông báo cơ quan điều tra. Em đã sắp xếp để có thể trả lại tài sản là chiếc điện thoại đó cho người bạn. Nhưng người bạn đó nhất quyết không muốn nhận lại chiếc điện thoại nữa mà gửi đơn khởi kiện với mục đích truy tố pháp luật đối với em.
Vậy kính mong luật sư tư vấn có thể giải đáp giúp em là e có bị truy tố pháp luật về tội Lợi Dụng Tín Nhiệm Chiếm Đoạt Tài Sản không. Và nếu có thì mức hình phạt đối với em là như thế nào?
Em xin chân thành cám ơn.

Luật sư tư vấn:

Từ những dữ kiện mà bạn đưa ra, chúng tôi xin được tư vấn cho bạn dựa trên những quy định của pháp luật như sau:

Căn cứ theo điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, trước hết, việc làm của bạn là không trái với mong muốn của người bạn và bạn cũng là người có mong muốn được trả lại chiếc điện thoại cho người bạn. Đồng thời, giá trị chiếc điện thoại mới chỉ là 2.500.000 đồng, dưới 4.000.000 đồng nên bạn hoàn toàn không hề vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trừ trường hợp trước đây bạn đã từng bị phạt hành chính vì hành động tương tự mà chưa bị xóa án tích hoặc chiếc điện thoại là tài sản có giá trị tinh thần đối với bạn của bạn.

4. Cấu thành tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư: Em tên là Lê Thị X 22 tuổi. Em muốn hỏi về vụ việc như sau có được coi là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không ? Em có mua 1 chiếc xe máy là 13 triệu 500 ngàn đồng có giấy tờ xe, giấy mua bán đứng tên em, bộ hồ sơ gốc. Nhưng quê ở xa lại đang đi làm nên chưa có thời gian thay đổi giấy tờ được. Em có quen một người anh Nguyễn Văn C.
Lúc trước khi quen em không biết anh ta đã có vợ, nhưng sao khi biết được thì anh ta nói anh sắp li dị vợ rồi chỉ chờ đợi đứa con ra đời là sẽ ra tòa . Tin tưởng anh và cái gì ảnh nói em cũng tin. Khoảng thời gian quen được hơn ba tháng thì anh ta đã bỏ em và quây về với gia đình, biết được tin thì từ hôm đó đã chia tay. Em bỏ căn nhà trọ đó vì muốn trốn tránh không liên lạc nữa. Khoản 10 ngày sau em gặp anh ta tại sòng bài ở 1 quán cà phê, lúc đó anh ta lên chơi thua xong bỏ về. Qua hôm sau anh ta có điện thoại nhờ em trở lại quán cà phê đó cũng chơi hết tiền xong ảnh nhờ em trở về. Chạy khoảng được 5p là ảnh nói cho ảnh ở nhờ ít ngày, cầm xe rồi không dám về . Khoản 2 ngày sau , sáng hôm đó anh ta nói cho mượn xe đi mua đồ ăn sáng xong em cho mượn . Đi hơn nữa tiếng không thấy về em có gọi hỏi thì ảnh nói cho mượn xe cầm đỡ ít ngày em không đồng ý nhưng ảnh vẫn cố chấp cầm xe em 8 triệu. Chuộc xe anh ta hết 4triệu còn 4triệu anh ta trả nợ cho người ta. Biết được em rất giận nhưng anh ta hứa 5 ngày anh ta lấy tiền góp của người ta rồi anh trả lại, nghỉ tình xưa nghĩa cũ nên em đành phải chấp nhận.
Năm ngày đã qua mà không thấy ảnh đâu , điện thoại nói giờ em không có xe em đi làm anh đưa xe anh em chạy đi làm thì ảnh nói xe anh cầm rồi .ráng vài ngày nữa anh chuột xe cho em. Rồi lâu quá không thấy điện thoại thì không băt máy . Khi bắt máy thì nói giờ không trả rồi sao? Em có nói là sẽ báo Công An thì ảnh nói báo Công An thì ảnh chặn đánh em , đòi giết em. ngay bữa đó anh ta lại nhà em đánh em sợ qúa kêu cứu thì ảnh siêt cổ em. Sợ quá em mới lại nhà anh ta nói chuyện với gia đình thì gia đình anh ta chửi bới em. Giờ em đây nên làm gì để anh ta trả lại xe cho em ?
Em xin chân thành cảm ơn !

Lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trường hợp này người kia sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bạn theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Theo đó trong trường hợp này bạn có thể làm đơn tố cáo với bên cơ quan công an về vấn đề này để họ tiến hành điều tra. Việc tố cáo có thể được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo bằng miệng luôn. Về việc bạn sợ bị cáo có hành vi tấn công mình thì bạn có thể trình bày với cơ quan công an để họ ra lệnh tạm giữ bị cáo.

5. Tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay tội lừa đảo ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Một đồng nghiệp của tôi, vào tháng 3/2014 đã mượn xe honda của tôi để đi làm. Tôi đồng ý, khi nào mua xe thì trả lại cho tôi. Đến tháng 1/2015 thì hỏi mượn tôi số tiền 37 triệu đồng để cho vợ mở quán cơm.
Tôi đồng ý cho mượn một tháng không có làm biên nhận và cũng không tính lãi. Đến một tháng tôi đòi tiền lại thì đồng nghiệp tôi nói người bạn chưa đưa lại tiền. Tôi yêu cầu đồng nghiệp viết giấy biên nhận thì đồng nghiệp tôi né tránh nói rằng tôi là ân nhân nên không cần phải lo lắng. Sau đó đồng nghiệp tôi nói đang làm thủ tục vay tiền nên mượn tôi 4,8 triệu làm chi phí đi lại không có làm biên nhận. Ngày 24/3 đồng nghiệp tôi đưa cho tôi 1.250.000đ gọi là tiền lãi và viết biên nhận 37 triệu mà tháng 1 tôi đã cho mượn. Đồng nghiệp tôi tên Hiếu cũng hỏi mượn cô Thắm cùng phòng 7 triệu đồng để mở quán nhậu hồi tháng 2/2015 không có làm biên nhận. Tháng 1/2015, Hiếu mượn cô Hồng cùng phòng 10 triệu để mở quán cà phê. Nể tình đồng nghiệp cô Hồng cho mượn 1 tháng không tính lãi và cũng không làm biên nhận. Hiếu cũng nhờ cô Hồng mua giúp điện thoại Lumia mà Hiếu đang sử dụng với giá 2,2 triệu và cô Hồng đã đồng ý mua, đưa đủ 2,2 triệu cho Hiếu. Hiếu hẹn hôm sau giao điện thoại vì cần giữ liên lạc với người nào đó và được cô Hồng đồng ý. Hôm sau vào cơ quan cô Hồng hỏi điện thoại thì Hiếu nói cho cô em vợ của Hiếu mượn xài đỡ vài ngày. Cô Hồng đến ngày sinh đẻ nên không vào cơ quan nhưng cũng gọi điện hỏi Hiếu về chiếc điện thoại Lumia, Hiếu nói sẽ gửi cho đồng nghiệp khác.
Thời gian này Hiếu đưa cho cô Thắm 200.000đ gọi là tiền lãi, cũng gửi cho cô Hồng 500.000đ. Lúc bấy giờ Hiếu viết nguệch ngoạc lá đơn xin nghĩ việc gửi lại cơ quan và cô Thắm biết được sự việc nên đòi tiền thì Hiếu đề nghị Thắm làm hợp đồng vay tài sản 17 triệu đồng. Bao gồm 10 triệu của cô Hồng vào chung hợp đồng. Ngay sau khi ký hợp đồng thì Hiếu trốn khỏi cơ quan, các số đều không liên lạc được ngay cả số 0939903xxx mà Hiếu đã đăng ký với cơ quan trước đây. Tôi đã đến nhà Hiếu thì biết Hiếu đã bỏ đi, nhà Hiếu đóng cửa. Hỏi thăm khắp nơi biết được Hiếu không có mở quán cơm, quán nhậu hay quán cafê gì hết. Chúng tôi tìm đủ mọi cách nhưng không liên lạc được với Hiếu.
Xin hỏi luật sư, chúng tôi có thể tố cáo Hiếu về tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được không? Hay là tố cáo tội lừa đảo?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: D.L

Tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay tội lừa đảo ?

Luật sư tư vấn luật hình sự về tội lừa đảo, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Điều 174, 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

Như vậy, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều có thủ đoạn "gian dối", người bị hại đều có hành vi tự nguyện giao tài sản. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện thủ đoạn gian dối là khác nhau:

- Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139): Thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản. (Xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt). Do đó, nếu Hiếu có mục đích lừa đảo bạn và các đồng nghiệp ngay từ ban đầu, đồng thời dùng các thủ đoạn gian dối (vay tiền nhằm mở quán cơm, quán cà phê...) thì Hiếu phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Đối với tội lạm dụng tín nhiệm (Điều 140): Việc giao và nhận hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê..) và sự tín nhiệm (người quen biết..). Sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc đánh tráo, hoặc gian dối là bị mất…Không trả lại tài sản do không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, cầm đồ… Như vậy, việc bạn và các đồng nghiệp cho Hiếu vay tiền, mượn xe là dựa trên cơ sở hợp đồng và sự ttin tưởng Hiếu (vì cùng là đồng nghiệp nên không viết giấy vay nợ...). Sau khi không có khả năng trả nợ thì Hiếu đã bỏ trốn. Do đó, theo các thông tin vừa phân tích và nếu Hiếu thỏa mãn dấu hiệu mục đích phạm tội và hậu quả xảy ra (vay, mượn được tiền, tài sản dẫn đến khả năng không trả được thì mới bỏ trốn) thì Hiếu phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp này, Hiếu đã rất nhiều lần vay tiền của đồng nghiệp, đồng thời sau khi đồng nghiệp đề nghị viết giấy vay nợ thì Hiếu cũng đã viết các loại giấy này, trả lãi (dù rất ít) cho đồng nghiệp, chỉ đến khi không còn khả năng trả nợ thì Hiếu mới bỏ trốn. Do đó có thể xác định Hiếu phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo Điều 140 BLHS.

Để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, bạn nên làm đơn tố giác tội phạm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Điều 5. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm

1. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cơ quan nhà nước phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Cơ quan nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời hành vi vi phạm pháp luật để xử lý và thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mọi hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình; kiến nghị và gửi tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với người thực hiện hành vi phạm tội.

Thủ trưởng cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc không thông báo hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.

Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự : 1900.6162 .

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê