1. Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện để bảo vệ quyền của mình có bị xử lý hình sự không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về các hành vi xâm phạm quyền tác giả như sau:

- Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

Như vậy, hành vi cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan tuỳ theo mức độ còn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Cụ thể, tại Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan như sau:

- Cá nhân vi phạm bị phạt cao nhất đến 06 năm.

- Pháp nhân thương mại bị phạt cao nhất là phạt tiền từ 01 - 03 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm.

2. Thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Bồi thường thiệt hại là một trong những nội dung cốt lõi của pháp luật dân sự, là việc bù đắp lại những tổn thất, thiệt hại do hành vi vi phạm của chủ thể này gây ra cho chủ thể khác. Bồi thường thiệt hại là một dạng trách nhiệm dân sự “mang tính tài sản”, được quy định nhằm phục hồi lại trạng thái ban đầu trước khi có thiệt hại xảy ra. Với tính chất đặc thù là một loại tài sản vô hình, vấn đề bồi thường thiệt hại đối với quyền sở hữu trí tuệ mang những khác biệt nhất định so với bồi thường thiệt hại nói chung của luật dân sự. Theo quy định tại Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 và 2019, trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về vật chất cho mình thì có quyền yêu cầu tòa án quyết định mức bồi thường khi có căn cứ.

Trên thực tế, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ và Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại toà án nhân dân đã quy định thế nào là tổn thất về tài sản, giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh hay chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại. Thế nhưng, Hội đồng xét xử trong nhiều trường hợp thực tế dường như chưa có sự xem xét kỹ lưỡng và toàn diện vấn đề nên đã dẫn tới phán quyết gây nhiều tranh cãi và chưa thực sự thỏa đáng.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015, một trong những nguyên tắc bồi thường thiệt hại là toàn bộ và kịp thời. Tuy nhiên, vấn đề thế nào là “toàn bộ” và “kịp thời” thì không được quy định rõ ràng. Điều này đôi khi dẫn tới những khó khăn bởi các thẩm phán sẽ dựa vào kinh nghiệm và ý kiến chủ quan của mình trong quá trình xét xử để đưa ra lập luận về cách hiểu khái niệm này; từ đó dẫn đến mức bồi thường thiệt hại có những thay đổi tăng giảm nhất định so với yêu cầu bồi thường thiệt hại ban đầu của chủ thể bị thiệt hại. Trên thực tế, có những vụ kiện kéo dài trong nhiều năm, những tổn thất mà bên bị xâm phạm quyền phải gánh chịu là rất lớn nếu như tòa án không ngay lập tức có những hành động ngăn chặn hành vi vi phạm. Đồng thời, theo sự trượt giá của tiền tệ, mức bồi thường thiệt hại tại thời điểm này được xem là thỏa đáng nhưng sang thời điểm khác đã bị coi là “mất giá”.

3. Một số đề xuất về bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và nghiên cứu quy định của một số quốc gia về bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, chúng tôi đưa ra một số đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi vấn đề này tại Việt Nam như sau:

- Cần tuân thủ và áp dụng pháp luật một cách linh hoạt trong việc xét xử vụ án có yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Pháp luật dân sự Việt Nam yêu cầu một trong những căn cứ để đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là nguyên đơn phải xác định và chứng minh được thiệt hại. Thế nhưng, tài sản trí tuệ có tính chất vô hình nên sẽ rất khó khăn và không phù hợp nếu áp dụng một cách máy móc yêu cầu trên đối với bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Thực tiễn xét xử cũng cho thấy, không phải lúc nào nguyên đơn cũng xác định và chứng minh được cụ thể thiệt hại vật chất mà mình phải gánh chịu, hay lợi nhuận mà bên xâm phạm đạt được do hành vi xâm phạm. Luật sở hữu trí tuệ cũng đã dự liệu được khó khăn này, theo đó cho phép nguyên đơn được chọn một trong các cách tính quy định tại Khoản 1 Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ 2005, bao gồm cách tính theo giá chuyển giao giả định hoặc cách tính hợp lý khác, để yêu cầu tòa án quyết định mức bồi thường.

Tuy nhiên, như đã phân tích ở 2 bản án trên, xu hướng của tòa là không cho phép nguyên đơn được chọn cách tính như quy định pháp luật, mà mặc nhiên áp đặt cách tính tổng thiệt hại vật chất cho dù rất khó có thể chứng minh. Vì vậy, tòa án cần phải cởi mở, công bằng hơn trong cách tiếp cận vấn đề bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, tránh đi theo lối mòn, coi tài sản trí tuệ như tài sản thông thường và tạo gánh nặng chứng minh không cần thiết cho nguyên đơn.

- Có thể cân nhắc bổ sung quy định về bồi thường thiệt hại mang tính “trừng phạt”, theo đó, nếu hành vi xâm phạm được thực hiện do lỗi cố ý thì chủ thể xâm phạm quyền sẽ phải chịu mức bồi thường thiệt hại cao hơn mức thiệt hại thực tế. Hiện nay, Việt Nam vẫn đi theo quan điểm bồi thường thiệt hại thực tế, toàn bộ; nguyên tắc phổ quát vẫn là “thiệt hại đến đâu, bồi thường đến đấy”.

Bên cạnh đó, yếu tố lỗi không được nhắc đến là căn cứ để nguyên đơn đòi bồi thường thiệt hại, song lại là căn cứ để bị đơn xin miễn giảm mức bồi thường nếu chứng minh được mình không có lỗi hoặc hành vi xâm phạm xảy ra là do lỗi vô ý.

Tuy nhiên, như đã nhấn mạnh về tầm quan trọng cũng như sự khác biệt của tài sản trí tuệ so với các tài sản hữu hình thông thường, quy định như trên là thiệt thòi cho chủ sở hữu quyền, đồng thời cũng không đủ tính răn đe đối với chủ thể xâm phạm quyền. Thực tế cho thấy, việc thay đổi quan điểm từ bồi thường thiệt hại toàn bộ, thực tế sang áp dụng bồi thường thiệt hại mang tính trừng phạt đã tỏ ra hiệu quả ở Trung Quốc, một quốc gia có hệ thống pháp luật tương đối gần gũi với Việt Nam.

- Cần có những quy định cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nguyên đơn trong việc chứng minh thiệt hại. Trong trường hợp bị đơn cố tình không hợp tác, không cung cấp hoặc cung cấp thiếu, gian dối các tài liệu, chứng cứ, bị đơn sẽ phải chịu cơ chế trừng phạt, cụ thể là bồi thường thiệt hại theo mức mà nguyên đơn yêu cầu. Bằng quy định này, nguyên đơn sẽ dễ dàng chứng minh được khoản lợi nhuận mà bị đơn đã thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và đòi bồi thường thiệt hại dựa theo điểm a khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Bài viết tham khảo: Xâm phạm quyền của tổ chức phát sóng có bị xử lý hình sự?

Bài viết trên Luật Minh Khuê đã gửi tới bạn đọc chi tiết về vấn đề Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do chủ sở hữu quyền liên quan thực hiện để bảo vệ quyền của mình có bị xử lý hình sự không? Trong bài viết có mục nào chưa hiểu hay bạn đọc có bất kỳ thắc mắc về vấn đề pháp lý có thể liên hệ qua số tổng đài 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ.