1. Hiểu thế nào là nhận hối lộ?
Nhận hối lộ được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Bên cạnh đó, theo Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có quy định nhận hối lộ là một trong các hành vi tham nhũng. Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gồm:
- Cán bộ, công chức, viên chức;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
- Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;
- Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức;
- Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
Xem thêm: Tác hại của tham nhũng đối với nền kinh tế hiện nay
2. Tội nhận hối lộ hoàn thành khi người phạm tội đã nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác có đúng hay không?
2.1. Quy định của Bộ luật hình sự về tội nhận hối lộ
Tội nhận hối lộ được quy định rõ tại Điều 354 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đỏi, bổ sung năm 2017):
Thứ nhất, người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Lợi ích phi vật chất.
Thứ hai, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: Có tổ chức; Lạm dụng chức vụ, quyền hạn; Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng; Phạm tội 02 lần trở lên; Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước; Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt.
Thứ ba, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm: Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.
Thứ tư, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
Ngoài ra, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.
2.2. Cấu thành tội phạm của tội nhận hối lộ
Về chủ thể: Chủ thể của tội này bao gồm hai nhóm; cụ thể như sau:
(1) Nhóm chủ thể thứ nhất: Chủ thể của tội nhận hối lộ là người có chức vụ; quyền hạn trong các cơ quan nhà nước; tổ chức chính trị-xã hội; tổ chức chính trị hay tổ chức chính trị của nhà nước.
(2) Nhóm chủ thể thứ hai: Là người có chức vụ; quyền hạn trong các doanh nghiệp; tổ chức ngoài nhà nước. Đây là nhóm chủ thể mới được quy định mà trước đây Bộ luật hình sự năm 1999 chưa quy định.
Về khách thể: Khách thể của loại tội phạm này nhìn chung đó là các hành vi xâm phạm đến hoạt động đúng đắn; bình thường; tính chuẩn mực trong công tác của cơ quan; tổ chức do nhà nước quy định. Quy định về đối tượng của tội nhận hối lộ phải là tiền bạc; tài sản hoặc những giấy tờ có giá trị tài sản. Trường hợp người có chức vụ không nhận tiền của; tài sản mà nhận tình cảm của người khác giới thì không coi là nhận hối lộ.
Về mặt chủ quan: Mặt chủ quan của tội phạm được thể hiện do hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được họ là người có quyền hạn và có chức vụ, tuy nhiên họ lại lợi dụng chính chức vụ, quyền hạn của mình để nhận tiền hối lộ của người khác. Có thể thấy đây chính là hành vi trái với pháp luật, đi ngược lại với đạo đức nghề nghiệp. Tuy nhiên, người phạm tội vẫn mong muốn nhận được tiền của, tài sản hối lộ, thậm chí còn có những hành thể hiện sự vi vòi vĩnh, hay gợi ý, nhũng nhiễu đối với người đưa hối lộ.
Về mặt khách quan: Có hành vi “nhận” hoặc "sẽ nhận" của hối lộ từ người khác nhằm làm hoặc không làm một việc gì đó vì mục đích vụ lợi, người nhận hối lộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận tiền của hoặc lợi ích vật chất khác dưới vất kỳ hình thức nào để làm hoặc không làm một việc theo yêu cầu hoặc vì lợi ích của người đưa hối lộ. Hành vi nhận hối lộ được thực hiện trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác nhau (trường hợp sẽ nhận là trường hợp người có chức vụ chưa nhận tiền của hối lộ nhưng có căn cứ cho rằng đã có sự thỏa thuận về việc nhận hối lộ sau khi thực hiện xong một việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ).
Luật Minh Khuê đã tiếp nhận một ý kiến như thế này: "Tội nhận hối lộ quy định tại Điều 354 BLHS năm 2015 hoàn thành khi người phạm tội đã nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác". Từ những phân tích trên, có thể kết luận rằng, chỉ cần chủ thế có chức vụ, quyền hạn có hành vi nhận hoặc sẽ nhận hối lộ thì tội phạm này đã hoàn thành rồi, không nhất thiết là người phạm tội đã nhận tiền hoặc lợi ích vật chất. Các bên có thể thỏa thuận với nhau sau khi thực hiện hay không thực hiện một công việc đem lại lợi ích cho bên kia thì mới nhận tiền, lợi ích vật chất. Cho nên, cả hai trường hợp đã nhận hoặc sẽ nhận đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.
Trong một số trường hợp mà người có chức vụ nhận quà biếu sau khi đã làm đúng chức trách của mình không được coi là nhận hối lộ, bởi giữa người có chức vụ và người đưa quà biếu không có bất kỳ thỏa thuận nào về việc tặng quà biếu, người nhận quà biếu thực hiện công việc của mình đúng chức năng, quyền hạn, vô tư thì quà biếu được như sự biết ơn, có trước có sau, là tấm lòng, đạo đức của người Việt nam.
3. Một số điểm giống nhau giữa tội nhận hối lộ và tội tham ô
Tham ô tài sản và nhận hối lộ là hai loại tội phạm về tham nhũng phổ biến trong xã hội hiện nay kể cả các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Tuy nhiên giữa tham ô và nhận hối lộ sẽ có một số điểm chung nhất định.
Theo quy định của pháp luật hình sự, tham ô có thể hiểu là hành vi của người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
Một số điểm giống nhau giữa tội nhận hối lộ và tội tham ô là:
- Đối tượng phạm tội đều là người có chức vụ và có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn.
- Khung hình phạt cao nhất được áp dụng là tử hình, mức hình phạt thấp nhất là 02-07 năm tù giam.
- Người phạm tội có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 đến 05 năm, bị phạt tiền từ 30 triệu đến 100 triệu, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
- Áp dụng cả với các đối tượng có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước.
- Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Nếu sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì có thể không phải chịu thi hành án tử hình.
Trên đây là toàn bộ nội dung về chủ đề Thời điểm hoàn thành của tội nhận hối lộ theo Bộ luật hình sự năm 2015 mà Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách hàng. Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm về bài viết Tội đưa hối lộ là gì theo quy định của Bộ luật hình sự của Luật Minh Khuê. Còn bất cứ vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ Luật sư Nguyễn Thị Phương qua số điện thoại: 0985465912 hoặc hotline: 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Chúng tôi rất hân hạnh hợp tác với quý khách hàng. Trân trọng ./.