Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

Vấn nạn tham nhũng là vấn nạn chung của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới hiện nay, đây không còn là một đề tài riêng lẻ nữa mà là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam để xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó hối lộ đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho đất nước vì vậy mỗi chúng ta cần phải chung tay ngăn chặn hối lộ như thế nào?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Luật sư tư vấn:

1. Hối lộ và cấu thành tội phạm của hối lộ theo công ước quốc tế như thế nào?

Theo quy định tại công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng UNCAC có đưa ra tội phạm hình sự hoá về hối lộ như sau:

Điều 15. Hối lộ công chức quốc gia

Mỗi Quốc gia thành viên sẽ áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết khác để quy định thành tội phạm các hành vi sau đây, nếu được thực hiện một cách cố ý:

>> Xem thêm:  Thế nào là rửa tiền ? Tội rửa tiền bị phạt tù bao nhiêu năm ? Cách phòng chống rửa tiền ?

(a) Hứa hẹn, chào mời hay cho, trực tiếp hay gián tiếp, công chức bất kỳ một lợi ích không chính đáng cho chính bản thân công chức ấy hay cho một người hoặc một tổ chức khác, để công chức này làm hoặc không làm một việc trong quá trình thi hành công vụ;

(b) Hành vi của công chức, trực tiếp hay gián tiếp, đòi hoặc nhận một lợi ích không chính đáng cho chính bản thân công chức hay cho người hoặc tổ chức khác, để công chức làm hoặc không làm một việc trong quá trình thi hành công vụ.”

Trên tinh thần của công ước UNCAC ta xác định được chủ thể của tội phạm là công chức. Đối chiếu điều 2 công ước có đoạn Công chức có nghĩa là bất kỳ người nào giữ chức vụ về lập pháp, hành pháp, hoặc tư pháp của một quốc gia thành viên do được bầu hay bổ nhiệm, làm việc không thời hạn hoặc có thời hạn, được trả lương hay không được trả lương, bất kể cấp bậc của người đó; (ii) bất kỳ người nào thực hiện chức năng nhà nước, kể cả cho cơ quan hay doanh nghiệp nhà nước, hoặc cung cấp một dịch vụ công, theo quy định trong pháp luật quốc gia của quốc gia thành viên và được áp dụng trong lĩnh vực pháp luật liên quan của quốc gia thành viên đó; (iii) bất kỳ người nào được định nghĩa là “công chức” trong pháp luật quốc gia. Tuy nhiên, đối với một số biện pháp cụ thể quy định trong Chương II của Công ước này, “công chức” có thể nghĩa là bất kỳ người nào thực hiện chức năng nhà nước hay cung cấp một dịch vụ công như được định nghĩa trong pháp luật quốc gia của quốc gia thành viên và được áp dụng trong lĩnh vực pháp luật liên quan của quốc gia thành viên đó”. Đối chiếu với pháp luật Việt Nam chủ thể của hành vi tham ô là cán bộ, công chức, viên chức. Xét về mặt chủ quan, như đã thấy trong công ước, lỗi của chủ thể là lỗi cố ý. Động cơ của tội phạm được xác định là vì vụ lợi, tư lợi bất chính. Mục đích của tội phạm là chiếm hữu (trái phép) lợi ích không chính đáng do hối lộ mà có đó. Khách thể của tội phạm là quan hệ hành chính nhà nước, những quy định của nhà nước ban hành buộc công chức phải chấp nhận, quy trình làm việc của nhà nước. Mặt khách quan của tội phạm được xác định như sau: hành vi khách quan gây nguy hiểm cho xã hội là hứa hẹn , chào mời hay cho, trực tiếp hay gián tiếp, công chức bất kỳ một lợi ích không chính đáng cho chính bản thân công chức ấy hay cho một người hoặc một tổ chức khác và hành vi của công chức, trực tiếp hay gián tiếp, đòi hoặc nhận một lợi ích không chính đáng cho chính bản thân công chức hay cho người hoặc tổ chức khác. Đó là những hành vi khách quan được UNCAC xác định là gây nguy hiểm cho xã hội, thuộc tội phạm tham nhũng.những hành vi này tác động vào công chức để công chức thực hiện hoặc không thực hiện một hành độngđược quy định là trái pháp  luật. đây là một định nghĩa rất rộng, nghĩa là chỉ cần cán bộ, công chức, viên chức làm sai, làm thiếu, làm không đúng, làm thừa, … công việc thuộc thẩm quyền của mình chứ chưa nói đến ngoài thẩm quyền của mình thì sẽ bị kết tội hối lộ. Trên tinh thần của công ước, pháp luật Việt Nam cũng có tội nhận hối lộ tuy nhiên nếu đem xét về tính cụ thể thì luật Việt Nam vẫn cụ thể hơn công ước UNCAC. Hậu quả của hối lộ là rất lớn, ta có thể thấy như:

  • Tạo ra các lợi ích không chính đáng từ hành vi hối lộ cho cả người nhận hối lộ và người hối lộ. Trong tội hối lộ cả hai bên người hối lộ và người nhận hối lộ đều có lợi nên sẽ hình thành quan hệ lợi ích đôi bên cùng có lợi, xâm phạm lợi ích chung là lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể, lợi ích công cộng.
  • Tạo ra môi trường làm việc bất công bằng đối với những người trong sạch, công minh, xói mòn chất xám trong cơ quan nhà nước. Hối lộ kiến cho những người có năng lực không phát huy được hết năng lực của mình trong nhà nước, tạo ra lỗ hổng pháp lý để từ đó những người không đủ tài đủ đức lọt qua để thăng tiến.
  • Hình thành một “quy luật ngầm”  nếu phát triển mạnh, tác động đến tất cả các công việc làm của cán bộ công chức, viên chức đang thực hiện. Từ đó một khi đã hối lộ thì sẽ làm những công việc sai trái, vi phạm pháp luật, gây rối loạn hoạt động từ bên trong của cơ quan nhà nước, lâu dài cơ quan nhà nước hoạt động kém hiệu quả.
  • Hối lộ kiến cho cán bộ, công chức, viên chức làm giàu bất chính, từ đó nhanh chóng trở nên giàu có, lâu dần dẫn tới phân hoá giàu nghèo trong xã hội, gây bất bình trong xã hội, bức xúc trong nhân dân. Đây cũng là hậu quả chung của các tội về tham nhũng.

Từ đó ta có thể thấy mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả của tội hối lộ công chức như sau: dùng lợi ích để mua chuộc ý chí của cán bộ, công chức, viên chức, buộc họ phải làm hoặc không làm một công việc trong quá trình thi hành công vụ dẫn đến hai bên diễn ra “thoả thuận ngầm” vừa vụ lợi cho cán bộ, công chức, viên chức vừa có lợi cho hoạt động của chủ thể đưa hối lộ. Cán bộ, công chức, viên chức sẽ dùng lợi ích không chính đáng đó để làm giàu cho mình trong khi hành vi của cán bộ ,công chức, viên chức đó là hành vi không đúng đắn, vi phạm các quy tắc hoạt động của cơ quan nhà nước, vi phạm pháp luật tuỳ vào từng trường hợp cụ thể sẽ tác động đến từng lĩnh vực của nhà nước và vi phạm đạo đức ở một chừng mực. Từ đó dẫn tới công việc cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hoặc không thực hiện để nhận hối lộ là sai trái. Mà trong công vụ, một khi làm sai trái sẽ dẫn đến hậu quả xâm phạm lợi ích công cộng, tập thể. Hối lộ là một hành vi diễn ra phổ biến, nhiều người biết và sử dụng, nó sẽ tạo ra một hành lang riêng cho nhiều người đi vào. Trong bối cảnh xã hội thế kỷ XXI khi việc tìm kiếm thông tin trở nên dễ dàng thì càng có nhiều người tìm đến và tiếp cận được hành vi hối lộ cũng như những ưu thế nhanh chóng của hối lộ đem lại cho người hối lộ thì càng có nhiều người chọn con đường hối lộ. Trong đó, những người hối lộ đa phần không có tài năng nên mới chọn cách bỏ ra lợi ích để đạt được mục đích. Tuy nhiên nếu tính theo quy tắc cạnh tranh thì kết quả làm việc trong cả môi trường nhà nước lẫn tư nhân mới là yếu tố xác minh năng lực và thăng tiến. Như vậy có sự cào bằng giữa người có năng lực và người không có năng lực, giữa người có đức và người không có đức. Hối lộ làm các hoạt động của cán bộ , công chức, viên chức trở nên sai trái, vi phạm pháp luật dẫn đến hoạt động chung trong cơ quan, bộ máy bị sai lệch sự đúng đắn của nó, dẫn đến cơ quan, bộ máy nhà nước hoạt động hình thức, phát sinh sai phạm, chứa đựng yếu kém tiềm ẩn, hiệu quả, năng suất thấp, không đồng đều trong hoạt động…. lâu dài dẫn đến rối loạn từ bên trong, kém hoạt động. Đứng về phía người dân, cán bộ, công chức làm giàu bất chính trở nên giàu có chênh lệch giàu nghèo, đó là biểu hiện của quan lieu, nhũng nhiễu, vòi vĩnh, bất công. Hành vi nhận hối lộ làm giàu bất hợp pháp làm mất niềm tin của nhân dân vào các cấp, các ngành, xói mòn niềm tin của dân vào Đảng cũng như chính quyền. Lâu dài dẫn đến phân biệt giàu nghèo, phân biệt tầng lớp.

2. Quy định pháp luật Việt Nam về hối lộ như thế nào?

So với công ước UNCAC pháp luật Việt Nam có thêm phần chế tài trong điều luật và quy định rõ mức lợi ích vật chất tối thiểu để phạm tội mà người có chức vụ nhận được. Cụ thể tại khoản 1 điều 354 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 có quy định:

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất.

Theo pháp luật Việt Nam, mức khung hình phạt cơ bản của tội này là từ 2 đến 7 năm tù, tuy nhiên vì nhiều lý do chế tài này chưa đủ nặng để răn đe, đang còn nặng tính hình thức. Có thể kể đến một số lý do đó như:

>> Xem thêm:  Quy định mới về xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non

  • Tình hình hối lộ diễn ra phổ biến, thường xuyên.
  • Sự hợp tác của nhân chứng cũng như các chủ thể khác kém dẫn đến việc không tố giác tội phạm, trong khi ở nhiều nơi có nhiều người biết rõ về những vụ việc như thế này xảy ra.
  • Việc xét xử đang còn có chạy án, chạy tội bao che dung túng cho người có chức quyền.

Nước ta có quy định giống với tinh thần của luật quốc tế tại công ước UNCAC, cho rằng lợi ích phi vật chất là một loại lợi ích của hối lộ, không như nhiều quốc gia khác chỉ đưa ra tư duy lập pháp cho rằng hối lộ phải là hối lộ vật chất. Thế nhưng, luật Việt Nam vẫn hạn chế đó là chưa quy định rõ lợi ích phi vật chất cụ thể là lợi ích gì, hối lộ bao nhiêu trở lên thì bị xem là tội hình sự còn dưới mức đó chỉ bị xử phạt hành chính. Nói đúng hơn pháp luật nước ta vẫn chưa chia ra được các nhóm lợi ích phi vật chất, biểu hiện và mức độ nguy hiểm của nó. Cho nên nếu trong trường hợp xét xử mà có lợi ích phi vật chất, thẩm phán chủ toạ phiên toà cũng khó có thể dựa vào đó mà định tội, chỉ có thể xử theo án lệ, thói quen pháp luật hoặc tự căn mức độ nguy hiểm của hối lộ phi vật chất một cách chung chung, định tính.

Pháp luật Việt Nam đã ghi nhận tội hối lộ là tội đặc biệt nghiêm trọng với khung hình phạt cao nhất là tử hình. Đây có thể đánh giá là tư duy tiến bộ của các nhà làm luật hiện nay bởi lẽ ở các nước diệt tham nhũng tốt như Trung Quốc, Ấn Độ họ cũng có hình phạt tử hình dành cho tội nhận hối lộ. Đồng thời với việc đó là chế tài kinh tế được đưa ra. Hình thức phạt tiền hoặc tịch thu một phần, toàn bộ tài sản là một biện pháp đánh vào chính lòng tham của tội phạm. Bởi vì xét cho cùng thì nhận hối lộ cũng vì lòng tham nếu xử phạt như vậy vừa tạo ra bức rào cản tâm lý ngăn không cho tội phạm phạm tội vừa thu hồi về được tài sản do tham nhũng mà có, bổ sung ngân sách quốc gia.

Một điều đáng nói nữa là pháp luật nước ta có phạm vi điều chỉnh rất rộng khi quy định các trường hợp hối lộ còn lại trong xã hội (Tức trong môi trường tư, tổ chức phi chính phủ, liên chính phủ…) đều xét xử theo tội này.

3. Bản chất, đặc trưng của hối lộ như thế nào?

Hối lộ là sự coi thường kỷ cương, pháp luật. Xét về góc độ đạo đức hành vi này là sự suy thoái đạo đức cách mạng, vi phạm đạo đức người đảng viên. Hành vi hối lộ là kết quả của quá trình suy yếu tu dưỡng đạo đức cán bộ, công chức, viên chức, là biểu hiện của sự đi xuống trong quản lý hành chính nhà nước về quản lý con người, là sự tha hoá, biến chất của một bộ phận người có chức vụ, quyền hạn. Hối lộ phát triển là biểu hiện cho nền địa chính trị đương thời có nhiều bất ổn ủng hộ cho tham nhũng nói chung phát triển.

Hối lộ là sự tráo đổi lợi ích có mục đích, hướng tới tư lợi quyền lực và lợi ích. Hối lộ được thực hiện khi có ít nhất hai bên chủ thể và tất cả các bên đều nhận thức thấy rõ hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của mình. Bao giờ trong quan hệ hối lộ cũng có một bên nhận hối lộ là người có chức vụ quyền hạn nhận lợi ích còn bên còn lại là người mua quyền lực bán lợi ích. Xét một cách tổng quát tất cả các trường hợp lợi ích được hối lộ thường có tỉ lệ thuận với quyền lực được hưởng, tuy nhiên cũng có trường hợp vì một số lý do khác nhau mà người đưa hối lộ chỉ mất một lợi ích nhỏ.  Hành vi mua bán quyền lực xảy ra khép kín, thường không có hoặc rất ít có sự tham gia của người thân cận, quen biết và tin tưởng của hai bên. Tóm lại dân gian có một câu nói đơn giản về bản chất hành vi này là  mua quan, bán tước.

Hối lộ là sự lợi dụng quyền lực một cách sai trái. Người có chức vụ, quyền hạn bắt buộc phải biết về hành vi lợi dụng quyền lực sai trái này nhưng vì trục lợi đã chấp nhận lợi dụng quyền lực một cách sai trái và ít nhiều biết về hậu quả sẽ sảy ra nếu hành vi vi phạm pháp luật này được xét xử. Trong quan hệ pháp luật này, thông thường nếu quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn càng lớn thì lợi dụng quyền lực sai trái diễn ra càng tinh vi và lợi ích người có chức vụ, quyền hạn nhận được càng nhiều.

Kết quả của hối lộ là sự trá hình, là kết quả giả trong phát triển quyền lực. Theo đó đưa hối lộ sẽ mua được quyền lực và các giai đoạn để đạt được quyền lực như mong đợi của người đưa hối lộ chỉ còn làm theo hình thức pháp luật quy định. Nó chỉ còn là một tấm khiên bề mặt che đi sai lầm bên trong quan hệ pháp luật này.

Hối lộ là một tội tham nhũng có ưu điểm dễ thực hiện, chỉ việc chọn thời điểm đưa hối lộ phù hợp và hợp ý chí hai bên. Nó diễn ra nhanh gọn, không tốn nhiều công sức mà hiệu quả cao so với một số tội phạm tham nhũng khác. Chính vì lẽ đó mà hối lộ dần dần trở thành một hành vi phổ biến và ăn sâu vào tư tưởng phạm tội của người đưa hối lộ cũng như người nhận hối lộ. Về lâu dài, hối lộ ngày nay đã trở thành hành vi tham nhũng thông dụng nhất cả nước.

4. Nguyên nhân của hối lộ là gì?

>> Xem thêm:  Những vấn đề về chính sách về phòng chống tệ nạn xã hội

Ở Việt Nam, chế độ tiền lương, trợ cấp, phụ cấp nhà nước hiện nay còn chưa cao. Do đó mức sống của  cán bộ công chức, viên chức nói chung còn chưa được đảm bảo. Trong khi đó quyền làm giàu và thụ hưởng lợi ích là nhu cầu tất yếu của mỗi một cá nhân. Chính vì vậy, trong khi thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức còn thấp, so với môi trường tư nhân thì dễ phát sinh tiêu cực nảy sinh tham nhũng.

Việt Nam đang trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hay nói cách khác chúng ta đang ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì lúc này cái mới bắt đầu hình thành, xuất hiện, cái cũ biến mất dần dần, đồng thời cũng hình thành những cái lai tạo giữa cái cũ và cái mới, … đây là một dai đoạn lâu dài, khó khăn. Chính vì vậy trong thời kỳ này dãn đến hậu quả cạnh tranh khốc liệt, phân hoá giàu nghèo, lối sống hưởng thụ, giá trị lợi ích vật chất được lên ngôi đã tác động đến người có chức vụ, quyền hạn cũng như người đưa hối lộ những tư tưởng suy thoái đạo đức để thăng tiến, kiếm tiền. Những hành vi này về lâu dài dẫn đến hối lộ.

Hối lộ xuất phát từ chính sự thiếu trách nhiệm trong các cơ quan của hệ thống chính trị. Nó diễn ra theo thời gian mà không có các biện pháp xoá bỏ tối thiểu tình trạng này lâu dài dẫn đến hình thành một cơ chế ngầm, một quy luật ngầm trong chính trị theo đó số lượng và cả phạm vi, mức độ nghiêm trọng của hối lộ dần dần ra tăng. Về lâu dài nó tạo thành một bối cảnh đương thời có những điều kiện ủng hộ hối lộ.

Ở Việt Nam, hối lộ đã thành một tội có từ lâu đời và kéo dài suốt cả nghìn năm lịch sử. Chính vì thế, bối cảnh lịch sử-văn hoá đã tạo ra nhiều truyền thống, đôi khi là phong tục tập quán ủng hộ cho hối lộ phát triển. Trong một số giai đoạn lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, các tập quán, phong tục và phương thức phạm tội được kế thừa từ giai đoạn xưa đã và đang giúp cho tội phạm này phát triển nhanh chóng.

Sự hoạt động kém hiệu quả của các cơ quan phòng chống tham nhũng ở Trung Ương cũng như địa phương góp phần vào việc khó đẩy lùi tội phạm này. Nhìn chung các cơ quan được thành lập có số lượng nhiều nhưng chất lượng làm việc lại thấp, trong khi phạm vi thẩm quyền, chức năng , nhiệm vụ, quyền hạn lại chồng chéo. Các cơ quan này hoạt động không có sự điều phối chung dẫn đến năng suất, chất lượng kém. Thẩm quyền xử lý phòng chống tham nhũng của các cơ quan có thẩm quyền chung trong bộ máy nhà nước còn hạn chế, hoạt động phòng chống hối lộ còn hình thức.

Bản thân người có chức vụ, quyền hạn là người suy thoái về đạo đức thiếu trách nhiệm với công việc, với tập thể, với nhân dân. Tư tưởng cán bộ chưa nhận thức rõ tính nguy hại của hành vi hối lộ gây ra, đang còn tư tưởng học theo, bao che cho hối lộ để hưởng lợi. Đảng viên một bộ phận thiếu gương mẫu, thiếu trong sạch trong hoạt động công vụ vì vụ lợi.

5. Giải pháp của hối lộ hiện nay như thế nào?

Hiện nay, với tư duy lập pháp cao cấp và trình độ làm luật cao cũng như sự đóng góp vào công cuộc xây dựng pháp luật của các luật gia và học hỏi trình độ từ các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, nước ta hoàn toàn có thể có giải pháp ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật này. Giải pháp của hối lộ đã được cụ thể hoá trong Luật phòng chống tham nhũng 2018. Về cơ bản, luật đã có đầy đủ các giải pháp phòng chống hối lộ, bao trùm trên phạm vi rộng khắp tất cả các trường hợp hối lộ. Để nhanh chóng đẩy lùi hành vi này chúng ta cần có cơ chế thi hành luật tốt hơn nữa, then chốt trong tất cả các khâu thực thi pháp luật và thực hiện pháp luật. Cụ thể, cần chú trọng vào các vấn đề sau:

Công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Biện pháp phòng ngừa này giúp kiểm soát được thông tin trong cơ quan nhà nước từ đó khiến cho công khai hoạt động của người có chức vụ, quyền hạn nên khó có cơ hội sảy ra hối lộ. Điều này làm cho các lỗ hỗng trong hoạt đọng của cơ quan nhà nước và người có chức vụ không còn, khiến cho không còn vùng tối để hối lộ hoạt động. Theo điều 10 Luật phòng chống tham nhũng 2018 thì nội dung cần công khai, minh bạch của hối lộ gồm: Việc thực hiện chính sách, pháp luật có nội dung liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức, viên chức; người lao động; cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và công dân ( điểm a) ;Công tác tổ chức cán bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị; quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn (điểm c); Việc thực hiện chính sách, pháp luật có nội dung không thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản này mà theo quy định của pháp luật phải công khai, minh bạch. 

Thực hiện quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, dơn vị. Đây là biện pháp phòng ngừa hướng vào thay đổi nhận thức của người nhận hối lộ theo đó mỗi nghành nghề đặc thù sẽ có một bộ quy tắc ứng xử riêng. Mỗi người có chức vụ quyền hạn đều phải tuân theo bộ quy tắc ứng xử này nhằm làm trong sạch trong họat động, liêm chính trong cách làm việc của cán bộ, công chức, viên chức. Cụ thể, nó được quy định tại điều 20 của luật. Tại khoản 2 điều 22 tặng quà và nhận quà có quy định: Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình” Đó là giải pháp quan trọng cho vấn đề này.

>> Xem thêm:  Những điểm mới của Luật Phòng chống ma túy mới nhất hiện nay

Chuyển đổi vị trí công tác của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Khi chuyển đổi vị trí công tác, các mối quan hệ trong cơ quan nhà nước và một phần mối quan hệ trong xã hội của người nhận hối lộ bị thay đổi. Từ đó, các quan hệ thân thích đã hình thành hối lộ từ trước sẽ không còn nên giúp giảm thiểu hối lộ. Tuy nhiên, biện pháp này không hiệu quả cao trong phòng chống hối lộ bằng các biện pháp khác. Cơ sở pháp lý: mục 4 chương II Luật Phòng chống tham nhũng.

Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đây được xem là biện pháp phòng ngừa hối lộ quan trọng nhất trong tất cả các biện pháp. Với việc kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ta có thể phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời, dứt điểm hối lộ. Trong đó, phải kể đến kiểm soát bằng quyền lực nhà nước. Nhà nước quy định cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn. Đó là hình thức quản lý phát huy tính tích cực trong quyền hạn của cơ quan nhà nước đối với cá nhân người đó. Hình thức bắt buộc kê khai tài sản, thu nhập và xác minh tài sản thu nhập được coi là phần giải pháp then chốt. Trong phòng chống hối lộ, rất khó để truy bắt các trường hợp nhận hối lộ, vì vậy cần phải thông qua xác minh tài sản thu thập và đối chiếu với bản kê khai. Trên hết, đây là phương pháp tối ưu mà nhiều nơi trên thế giới áp dụng để phòng chống hối lộ. Đồng thời chúng ta còn xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản. Điều này giúp thuận tiện trong quá trình tra cứu và hoàn thiện quy trình truy tìm đối tượng nhận hối lộ.

Công tác kiểm tra và tự kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Người đứng đầu cơ quan nhà nước có trách nhiệm tổ chức kiểm tra và tự kiểm tra trong phạm vi cơ quan mình, cán bộ công chức viên chức có trách nhiệm tuân thủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra.

Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm toán. Các cơ quan giám sát như Quốc hội, hội đồng nhân dân có chức năng giám sát hoạt động phát hiện hối lộ của cơ quan hành chính đồng thời kiến nghị với các cơ quan thanh tra, kiểm toán để giải quyết. Cơ quan thanh tra, kiểm toán có chức năng thanh tra ,kiểm toán giải quyết tham nhũng nói chung và hối lộ nói riêng.

Phản ánh, tố cáo về hành vi tham nhũng. Theo đó mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức và đơn vị có trách nhiệm phản ánh, tố cáo lại hành vi hối lộ và được pháp luật bảo vệ cũng như biểu dương, khen thưởng.

Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng. Là người dễ nhận hối lộ nhất nên người đứng đầu cơ quan phải có chế độ trách nhiệm riêng. Cơ sở pháp lý: chương IV Luật phòng chống tham nhũng.

Trách nhiệm của xã hội trong phong chống hối lộ. Xã hội có trách nhiệm chung trong phòng chống hối lộ, mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi trách nhiệm quyền hạn của mình phải chung tay xây dựng môi trường làm việc trong sạch, không tiêu cực. Mỗi chủ thể cần tuyên truyền, vận động các tầng lớp xã hội, cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước nắm bắt về hành vi hối lộ, đấu tranh phòng chống hối lộ,kiến nghị xây dựng chính sách pháp luật.                                           

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Quỹ phòng chống thiên tai là gì? Pháp luật quy định xử lý ra sao khi không đóng quỹ phòng chống thiên tai?

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê