1. Khái niệm công nhận DE JURE

Công nhận DE JURE là một trong những hình thức truyền thống của công nhận quốc tế chính thức đối với quốc gia hoặc Chính phủ mới được thành lập, là sự công nhân quốc tế chính thức ở mức độ đầy đủ nhất và trong một phạm vi toàn diện.

Công nhận De Jure thường được vận dụng trong thực tiễn khi quốc gia công nhận không băn khoăn về tính hợp pháp của sự ra đời của quốc gia hoặc Chính phủ được công nhận khi quốc gia công nhận buộc phải thoả hiệp để có quan hệ ngoại giao bình thường và hợp tác trong một phạm vi toàn diện nhất đối với đối tượng được công nhận do tương quan lực lượng chính trị quốc tế hoặc những hoàn cảnh lịch sử, kinh tế cụ thể.

Công nhận De Jure thường được coi là sự công nhận cuối cùng, kết thúc trọn vẹn, là cơ sở quan trọng để các bên thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường trên cơ sở các điều ước quốc tế song phương, giải quyết mọi vấn đề giữa hai bên. Sự khác nhau cơ bản giữa hình thức công nhận De jure và công nhận De Factor chủ yếu về mặt chính trị. Động cơ chính trị ở đây của bên công nhận De Factor thể hiện ở thái độ thận trọng hoặc miễn cưỡng của quốc gia công nhận mới đối với đối tượng mới được thành lập trong nhiều vấn đề liên quan đến tình hình, bối cảnh trong nước cũng như quốc tế. Đối với trường hợp công nhận De dure, rõ ràng các bên muốn thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường, toàn diện với tất cả những kết quả pháp lí đầy đủ nhất của nó. Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, sự công nhận De Jure là cơ sở pháp lí quan trọng để các bên giải quyết triệt để vấn đề kế thừa của các bên liên quan.

2. Phân biệt công nhận DE JURE và công nhận DE FACTOR

Mặc dù thực tế là chúng ta nghe thấy các cụm từ tiếng Latinh de jure và de facto rất thường xuyên và cũng đọc chúng chủ yếu trên báo chí, trong môi trường pháp lý và chính trị, nhiều người trong chúng ta sẽ khó nhận ra sự khác biệt chính xác giữa hai ngôn ngữ này. Điều này là do sự tương đồng giữa cả hai vì cả hai dường như đều liên quan đến luật pháp và cũng bởi vì hầu hết mọi người không có khả năng nắm bắt các sắc thái của ngôn ngữ Latinh. Bài viết này cố gắng làm nổi bật sự khác biệt giữa de jure và de facto để cho phép mọi người sử dụng đúng các biểu thức này và cũng để hiểu chúng theo cách tốt hơn khi đọc hoặc nghe các biểu thức này.

De Jure là một cụm từ tiếng Latinh có nghĩa là hợp pháp hoặc hợp pháp. Khi chúng ta nói về các chính phủ, chúng ta muốn nói đến các chính phủ thực thi ngụ ý được bầu ra hợp pháp và được các bang khác công nhận. Tuy nhiên, nếu trong một tiểu bang hoặc một quốc gia xảy ra trường hợp có ai đó gọi điện từ phía sau hậu trường và nắm quyền thống trị thực sự trong tay, thì người đó được cho là quyền lực trên thực tế. Hãy tưởng tượng một đất nước mà chính phủ đã bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính quân sự và họ bị buộc phải lưu vong. Chính phủ này sau đó được các quốc gia khác trên thế giới coi là chính phủ de jure trong khi chính phủ de facto là người nắm quyền cai trị đất nước.

Nếu ai đó còn nhớ những ngày nội chiến ở Hoa Kỳ và cái gọi là luật Jim Crow đề xuất sự phân biệt chủng tộc trong nước, thì rõ ràng rằng sự phân biệt chủng tộc, một cụm từ đã trở nên nổi tiếng trong những ngày đó, là phản ánh ý định của nhà nước thực thi sự phân chia giai cấp giữa người da trắng và da đen trong xã hội. Sự phân biệt rõ ràng này nổi bật nhất ở các bang phía nam của đất nước trong khi sẽ đúng khi gọi các luật phân biệt ở các khu vực khác của đất nước là sự phân biệt trên thực tế vì nó được thực thi bởi các cơ quan có thẩm quyền khác với chính quyền bang.

Nếu sự phân biệt de jure và de facto là cách sử dụng khét tiếng nhất của những biểu thức tiếng Latinh này, thì có một bối cảnh khác nơi những biểu thức này được sử dụng và đó là tình huống không quốc tịch. UNHCR định nghĩa tình trạng vô quốc tịch là tình trạng một người không có quốc tịch hoặc quyền công dân và bị gạt ra ngoài lề trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Người không quốc tịch phải đối mặt với nhiều khó khăn trong cuộc sống hàng ngày như không được tiếp cận với các cơ sở chăm sóc sức khỏe, giáo dục, tư pháp ... Họ cũng dễ trở thành nạn nhân của nhiều loại tội phạm như buôn người, bán rong ma túy. Đối với những người này, thuật ngữ không quốc tịch trên thực tế được sử dụng để phản ánh thực tế rằng họ bị đất nước họ đang sinh sống phớt lờ, và đất nước của họ cũng từ chối chấp nhận họ là công dân của mình.

Trong một cuộc cách mạng, khi một chính phủ bị lật đổ và một chính phủ mới lên nắm quyền mặc dù không có chế tài pháp lý, nó được gọi là chính phủ trên thực tế. Chính phủ bị lật đổ nhưng vẫn được các nước bên ngoài công nhận được gọi là chính phủ de jure.

Sự khác biệt giữa De Jure và De Facto là gì?

• De jure nghĩa là theo luật. Đó là một cái gì đó hợp pháp và chính đáng. Trong những trường hợp bình thường, de jure là không cần thiết vì tất cả các chính phủ đều được bầu ra hợp pháp và do đó de jure.

• Trên thực tế có nghĩa là tồn tại, nhưng không theo luật.

• Một chính phủ bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính quân sự là chính phủ thực tế trong khi chính phủ mới, mặc dù không hợp pháp, được gọi là chính phủ trên thực tế.

• Hai cách diễn đạt Latinh được sử dụng khá thường xuyên trong phong trào dân quyền ở Hoa Kỳ để thể hiện sự phân biệt rõ ràng và phân biệt trên thực tế.

3. Khái niệm công nhận quốc tế

Công nhận quốc tế là hành vi chính trị pháp lý của quốc gia dựa trên những động cơ nhất định nhằm xác định sự tồn tại của thành viên mới trong quan hệ cộng đồng quốc tế và khẳng định quan hệ trong quốc gia công nhận với các chế độ chính sách của quốc gia được công nhận và thể hiện ý chí của các quốc gia muốn thiết lập lại quan hệ bình thường và ổn định với bên được công nhận.

4. Các hình thức công nhận quốc tế

Không tồn tại một hình thức công nhận thống nhất cho mọi trường hợp. trong thực tiễn quốc tế, các chủ thể thường sử dụng một trong các hình thức sau khi thực hiện, hành vi công nhận quốc.

Các hình thức công nhận quốc tế có thể kể đến bao gồm:

– Công nhận de jure: là công nhận chính thức ở mức độ đầy đủ nhất và trong một phạm vi toàn diện nhất.

– Công nhận ad hoc: là hình thức công nhận đặc biệt chỉ phát sinh trong quan hệ giữa các bên trong một phạm vi nhất định, hoàn cảnh nhất định nhằm tiến hành một số công vụ nhất định cụ thể và quan hệ đó sẽ được chấm dứt ngay sau khi hoàn cảnh công vụ đó.

Ví dụ: Năm 1976 Mỹ thực thi chính sách cấm vận đối với Việt nam, tuy nhiên trong thời gian này, Mỹ cũng tiến hành công nhận ad hoc với Việt nam bằng cách ký một loạt các hiệp định song phương liên quan đến vấn đề tìm kiếm hài cốt liệt sỹ Mỹ mất tích tại Việt nam..

– Công nhận de facto là công nhận quốc tế thực tế nhưng ở mức không đầy đủ, hạn chế và trong một phạm vi không toàn diện. Theo V.I Lê Nin công nhận de facto là “công nhận mới một nửa”.

Sự khác nhau giữa công nhận de facto và công nhận de jure chủ yếu về mặt chính trị. Động cơ chính trị chủ yếu của bên de facto thể hiện ở thái độ thận trọng của quốc gia công nhận đối với quốc gia hoặc chính phủ mói được thành lập trong nhiều vấn đề liên quan đến tình hình, bối cảnh trong nước cũng như quốc tế.

5. Các phương pháp công nhận quốc tế

– Công nhận minh thị: được thể hiện rõ ràng, bằng một hành vi cụ thể của quốc gia công nhận trong các văn bản chính thức.

– Công nhận mặc thị : là công nhận quốc tế, được thể hiện một cách kín đáo, ngấm ngầm mà bên được công nhận hoặc các quốc gia và chính phủ khác phải dựa vào các quy phạm tập quán nhất định hay các nguyên tắc suy diễn trong sinh hoạt quốc tế mới làm sáng tỏ được ý chí công nhận của bên công nhận.

Trong thực tiễn sinh hoạt quốc tế, sự công nhận de jure và công nhận de facto đều có thể được thực hiện thông qua một trong hai nhóm phương pháp công nhận nói trên. Thông thường, công nhận de facto ít khi được thực hiện thông qua nhóm phương pháp minh thị và trái lại, công nhận de jure lại thường được thực hiện thông qua nhóm phương pháp minh thị

Quốc gia được thực hiện công nhân quốc gia và chính phủ mới thành lập theo thể thức riêng lẻ, độc lập đối với các quốc gia khác hoặc theo thể thức tập thể trong mối quan hệ hợp tác với các quốc gia khác trong những mức độ và phạm vi khác nhau.

6. Hệ quả pháp lý của công nhận quốc tế

Giải quyết triệt để vấn đề quy chế pháp lý của đối tượng được công nhận

Tạo ra những điều kiện thuận lợi để các bên thiết lập những quan hệ nhất định với nhau

Ngoài ra, công nhận quốc tế chính thức giữa các quốc gia và chính phủ sẽ tạo ra và bảo đảm những điều kiện thuận lợi để thiết lập và phát triển những quan hệ bình thường giữa các quốc gia, tạo ra tiền đề để thiết lập những quan hệ nhiều mặt ở những mức độ khác nhau giữa các quốc gia công nhân và quốc gia được công nhận. Việc thiết lập quan hê ngoại giao giữa quốc gia công nhận và quốc gia được công nhận là một trong những hệ quả pháp lý quốc tế quan trong nhất của sự công nhận quốc tế

Mặt khác, khi công nhận một chính phủ mới được thành lập theo trường hợp cách mạng xã hội thì quan hệ ngoại giao đã tồn tại giữa các bên (bên công nhận và bên được công nhận) sẽ được phục hồi chứ không phải thiết lạp mới quan hệ đó. Ngoài ra quan điểm chung của tất cả các luật gia quốc tế đều cho rằng, công nhận de facto sẽ tạo ra cơ sở pháp lý để thiết lập quan hệ lãnh sự

Về nguyên tắc, mọi quốc gia (và chính phủ) đều có quyền được tham gia vào các hội nghị và tổ chức quốc tế phổ cập. Quyền đó của các quốc gia không phụ thuộc vào sự công nhận của các quốc gia khác. Song, việc công nhận chính thức cũng có vai trò thúc đẩy việc thực hiện các quyền đó của quốc gia và ngược lại, chính việc tiến hành chính sách không công nhận đôi khi lại gây khó khăn cho quốc quốc gia không được công nhận muốn thực hiện tham gia tổ chức quốc tế của mình.

Sự công nhận quốc tế chính thức, ngoài những điều nêu trên còn làm phát sinh các quan hệ pháp lý khác, chẳng hạn, tạo điều kiện thuận lời cho quốc gia (và chính phủ) mới được công nhận có khả năng thực tế để bảo vệ quyền miễn trừ quốc gia và miễn trừ tư pháp đối với tài sản của quốc gia mình tại lãnh thổ của quốc gia công nhận, tạo ra những cơ sở pháp lý để chứng minh hiệu lực chứng cứ của các văn bả pháp luật do quốc gia mới được công nhận

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)