Công quyền là gì ? Công quyền bao gồm những yếu tố cụ thể nào?

Công quyền là thuật ngữ biểu thị khái niệm chung, bao gồm cả quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội. Bài viết xoay quanh nội dung liên quan đến công quyền mà cụ thể là quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội.

1. Công quyền là gì ?

Công quyền là thuật ngữ biểu thị khái niệm chung, bao gồm cả quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội.

Trong những ngữ cảnh nhất định, công quyền được hiểu đồng nghĩa với quyền lực nhà nước. Các cơ quan công quyền, trong ngữ cảnh nói về nhà nước, được hiểu là các cơ quan quyền lực nhà nước.

2. Quyền lực là gì ?

2.1. Khái niệm quyền lực

Quyền lực là một yếu tố gắn liền với quản lý, nó là điều kiện phát sinh và duy trì các quan hệ xã hội, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý. Vì vậy, quyền lực là khái niệm được các nhà tư tưởng quan tâm nghiên cứu từ rất sớm.

Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về quyền lực và chưa có một khái niệm thống nhất về quyền lực. Tuy nhiên, có thể tạm hiểu quyền lực với nghĩa đơn giản nhất đó là khả năng mà chủ thể này có thể áp đặt ý chí và buộc chủ thể khác phải thực hiện theo ý chí của mình bằng một sức mạnh cưỡng chế nào đó. Hay nói cách khác “quyền lực” là cái mà nhờ nó chủ thể này (chủ thể có quyền lực) có thể áp đặt ý chí của mình lên chủ thể khác (chủ thể bị quyền lực chi phối). Vì vậy, khi nói đến quyền lực là chúng ta nói đến mối quan hệ quyền lực, trong đó:

+ Trong mối quan hệ quyền lực, có ít nhất là hai chủ thể bao gồm chủ thể có “quyền lực” đóng vai trò áp đặt ý chí lên chủ thể còn lại (chủ thể bị quyền lực chi phối). Ví dụ, trong mối quan hệ giữa A và B thì A là chủ thể có quyền lực nhưng trong mối quan hệ giữa A và C thì A lại là chủ thể bị chi phối bởi quyền lực của C.

+ Mối quan hệ quyền lực ấy tồn tại trong điều kiện lịch sử cụ thể. Trong điều kiện tồn tại khác nhau, mức độ thực hiện quyền lực sẽ khác nhau, thậm chí có sự hoán đổi vị trí của các chủ thể tham gia quan hệ quyền lực đó. Ví dụ, tại thời điểm này A là chủ thể có “quyền lực” tuyệt đối với B nhưng tại thời điểm khác hoặc không gian khác A có mức độ thực hiện quyền lực với B thấp hơn hoặc thậm chí B mới là chủ thể có “quyền lực” với A.

+ Ngoài ra khi bàn về quyền lực, các nhà nghiên cứu đã thống nhất rằng không chỉ có “quyền lực tuyệt đối” mà “mức độ” thực hiện quyền lực phụ thuộc vào “mức độ” của sức mạnh (sức mạnh này có thể là sức mạnh bạo lực, sức mạnh về tài lực hay sức mạnh của trí tuệ) mà chủ thể có quyền lực sử dụng để áp đặt ý chí lên chủ thể bị chi phối bởi quyền lực.

2.2. Đặc trưng của quyền lực

– Tính tương tác xã hội: Quyền lực đòi hỏi sự tương tác ít nhất của hai chủ thể, tức quyền lực là một quan hệ xã hội. Quyền lực là quá trình tương tác và sẽ không tồn tại cho đến khi nó được thể hiện thành các hành động tương tác của từ hai chủ thể trở lên.

– Tính mục đích: Sự tác động đến chủ thể khác luôn có chú ý cho dù kết quả như thế nào đi chăng nữa. Tính mục đích giúp phân biệt quan hệ của quyền lực (một chiều, có mục đích, có hiệu lực) với sự ảnh hưởng nói chung (hai chiều, không có chủ đích, không chắc chắn và hiệu lực) dù chúng có thể có chung hình thức thể hiện.

– Tính cưỡng ép: Quan hệ quyền lực luôn dựa trên năng lực cưỡng ép (thưởng – phạt) đi kèm, đủ lớn để vượt qua sự chống đối. Đặc trưng này được coi là căn bản vì nó phân biệt quyền lực với các mối quan hệ xã hội có tính mục đích khác như thuyết phục, lừa đảo, dụ dỗ…

– Tính chính đáng: Tính chính đáng bao gồm: tính công ích, tính hợp lệ trong cách thức đạt quyền lực và sử dụng quyền lực đúng mục đích và hiệu quả. Tính cưỡng ép của quyền lực dù có lớn đến đâu cũng chưa đảm bảo hoàn toàn kết quả cuối cùng đạt được theo đúng mục đích vì phụ thuộc vào tính chống đối của chủ thể bị chi phối. Do đó, quyền lực cần có tính chính đáng, được thể hiện ở quá trình và phương thức thuyết phục bằng lý lẽ và lương tri.

3. Quyền lực nhà nước là gì ?

Quyền lực trong xã hội, xét về nội dung, phạm vi, chủ thể,… có cấu trúc phức tạp được hình thành từ nhiều loại quyền lực khác nhau. Các loại quyền lực này cùng tồn tại, đan xen và tác động lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể của quyền lực trong xã hội.

Nhà nước là một tổ chức pháp lý của một cộng đồng dân cư trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, ngoài trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nhà nước còn có trách nhiệm quản lý dân cư, bảo vệ công dân của mình, đồng thời phải thiết lập và duy trì trật tự xã hội. Muốn vậy, nhà nước phải có “quyền lực nhà nước” và quyền lực ấy phải được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Nghĩa là, quyền lực đó phải mang tính pháp lý và phải được bảo đảm thực hiện bằng hệ thống các thiết chế bạo lực của nhà nước.

Xét dưới góc độ bản chất, nhà nước luôn mang tính giai cấp, nhà nước là công cụ mà giai cấp thống trị xã hội thiết lập để truyền tải quyền lực chính trị của giai cấp thống trị lên nhà nước, biến thành quyền lực nhà nước để thực thi trong thực tiễn. Vì vậy, nhà nước phải thực hiện chức năng giai cấp, nghĩa là phải phục vụ và bảo vệ cho lợi ích của giai cấp thống trị xã hội.

Với tư cách là một bộ máy công quyền (bộ máy tổ chức thực thi quyền lực công), nhà nước không chỉ phải thực hiện chức năng giai cấp mà còn phải thực hiện chức năng xã hội. Do đó, nhà nước phải sử dụng tổng hợp các nguồn lực, kể cả quyền lực nhà nước để thiết lập và bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển và nhất là bảo vệ và phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, trong đó có lợi ích của tất cả các giai cấp, tầng lớp, các nhóm người trong xã hội.

Có thể hiểu: Quyền lực nhà nước là quyền lực chung của cộng đồng, được tổ chức thành nhà nước nằm trong tay một giai cấp, lực lượng nhất định trong xã hội. Khi nói đến quyền lực nhà nước là nói đến khả năng, năng lực của nhà nước để nhà nước áp đặt ý chí (ý chí này vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội) của mình lên các chủ thể trong xã hội trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước.

Theo Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định:

Theo Điều 2 Hiến pháp 2013:

“1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

2.Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

3.Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”

Như vậy, Hiến pháp ghi nhận quyền lực của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Chính nhân dân đã trao quyền cho nhà nước, vì vậy, bản thân nhân dân cũng có quyền lực để kiểm soát được nhà nước. Việc kiểm soát quyền lực thông qua việc thực thi thực chất, đầy đủ và rộng rãi quyền làm chủ của Nhân dân, cả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham dự; thực hiện nghiêm phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”.

Để có được điều đó, các cơ quan phải nghiêm túc thực hiện công tác quản lý, thực hiện chức năng, nhiệm vụ,… theo nguyên tắc công khai, minh bạch.

Trong đó, công khai là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị công bố, cung cấp thông tin chính thức về văn bản, hoạt động hoặc về nội dung nhất định.

Minh bạch rộng hơn khái niệm công khai. Minh bạch bao hàm cả cơ hội, tính bình đẳng trong tiếp cận thông tin, tính tin cậy nhất quán của thông tin, tính dự đoán trước được và sự cởi mở của cơ quan cung cấp thông tin.

“Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Như vậy, ở đây có cơ chế ủy quyền, nhân dân đã trao (ủy nhiệm) quyền lực của mình không chỉ cho Quốc hội mà còn cho cả hội đồng nhân dân các cấp.

Tuy nhiên, quyền lực tối cao của Nhà nước được trao cho Quốc hội, vì vậy, Quốc hội được coi là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thay mặt cho nhân dân cả nước quyết định những vấn đề cơ bản, trọng đại nhất của đất nước. Nhưng nếu chỉ có Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp thì không thể thực hiện được hết quyền lực nhà nước. Chính vì thế, xuất phát từ các cơ quan quyền lực nhà nước mà hàng loạt các cơ quan khác của Nhà nước được thành lập để cùng với các cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước. Để bảo đảm sự thống nhất, không phân chia của quyền lực nhà nước, pháp luật nước ta quy định tất cả các cơ quan khác của Nhà nước đều do Quốc hội và hội đồng nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập và các cơ quan này phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, phải báo cáo công tác với Quốc hội và hội đồng nhân dân.

Quyền lực nhà nước là quyền lực chung của cộng đồng, được tổ chức thành nhà nước nằm trong tay một giai cấp, lực lượng nhất định trong xã hội. Khi nói đến quyền lực nhà nước là nói đến khả năng, năng lực của nhà nước để nhà nước áp đặt ý chí (ý chí này vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội như đã phân tích) của mình lên các chủ thể trong xã hội trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước.

4. Quyền lực xã hội là gì ?

Quyền lực xã hội là khả năng, năng lực chỉ phối và điều khiển xã hội.

Quyền lực xã hội tồn tại ở khắp mọi nơi, trong tất cả các tập thể có tính cộng đồng của con người: trong các bộ lạc, thị tộc của xã hội nguyên thuỷ; trong gia đình, tôn giáo, đoàn thể; tại một công t, một xí nghiệp; trong một cuộc vui chơi tập thể... Sự tồn tại của các cộng đồng người làm phát sinh nhu cầu điều hoà, phối hợp, đưa các hành vi riêng lẻ, cá biệt của cộng đồng phục tùng một ý chí có tính chỉ huy, điều hành; chỉ bằng cách đó mới xác lập được trật tự, đưa lại sự an ninh cho từng cá nhân cũng như của toàn thể cộng đồng.

Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Đạo đức cách mạng" đã đặc biệt lưu ý đến đặc trưng này của đời sống con người làm phát sinh nhu cầu về quyền lực xã hội trong quản lí, điều hành các hoạt động cộng đồng: Từ lúc đầu, loài người đã phải đấu tranh đối với giới tự nhiên để sống còn, như chống thú dữ, chống mưa nắng... Muốn thắng lợi, thì mỗi người phải dựa vào lực lượng của số đông người, tức là của tập thể, của xã hội. Riêng lẻ từng cá nhân thì nhất định không thắng nổi tự nhiên, không sống còn được... Quyền lực xã hội cũng đặc biệt cần thiết trong tổ chức nền sản xuất xã hội. Như vậy, quyền lực xã hội đã ra đời, tồn tại với tính cách là một nhu cầu khách quan, có vai trò của một chức năng xã hội, một thuộc tính không thể thiếu được của cuộc sống cộng đồng, dù nhỏ hay lớn. Tuỳ thuộc vào nhu cầu tổ chức, quản lí mà tính chất của quyền lực xã hội có những biểu hiện khác nhau: trong một đoàn thể, một chính đẳng, tính chất của quyền lực xã hội khác với quyền lực xã hội trong một gia đình, một dòng họ, một hội đoàn theo nghề nghiệp. Tuỳ thuộc vào thành phần dân cư của cộng đồng - thuần nhất hay đa dạng, đối lập nhau về quyền lợi mà tính chất của quyền lực xã hội lại khác: trong một chính đẳng gồm những người cùng chí hướng, tự nguyện gia nhập phấn đấu vì một lí tưởng khác với tính chất của quyền lực xã hội tổn tại trong một quốc gia với những tầng lớp dân cư khác nhau về vị trí xã hội, đối lập nhau về lợi ích... Một yếu tố khác có tính chất cũng rất cơ bản là phương thức thiết lập quyền lực xã hội: trên cơ sở một sự tự nguyện, tự giác chấp nhận hay bằng phương thức áp đặt, cưỡng chế, bạo lực... Từ đó, quyền lực xã hội được hình thành trên cơ sở các quy tắc đạo đức, phong tục, tập quán, nghí lễ tôn giáo và sự thừa nhận quyền uy của người đứng đầu.

Quyền lực xã hội bao gồm rất nhiều loại hình: quyền lực nhà nước, quyền lực của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các tập hợp quần chúng, quyền lực của cộng đồng dân cư, của các tổ chức tôn giáo, của dư luận xã hội. Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội luôn luôn thống nhất với nhau.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)

4 sao của 3 đánh giá

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Cảm ơn bạn đã nhận xét!

Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày

Quyền lực là gì ? Tìm hiểu về quyền lực xã hội

Quyền lực được xem là khả năng của cá nhân hay tổ chức có thể buộc các cá nhân hay tổ chức khác phải phục tùng ý chí của mình. Vậy, khái niệm quyền lực xã hội hoặc quyền lực nhà nước có gì khác biệt ...

Đánh giá việc áp dụng các nguyên tắc phân chia quyền lực trong quá trình xây dựng và phát triển bộ máy nhà nước tư sản thời kì cận đại?

Những tư tưởng về quyền lực nhà nước, về việc tổ chức và thực hiện quyền lực ấy lại giữ vị trí cơ bản và trọng yếu. Nhà nước tư sản có bộ máy nhà nước phát triển khá phức tạp, nó được xây dựng dựa ...

Phân tích về vai trò của pháp luật đối với nhà nước và xã hội ?

Nước CHXHCN Việt Nam luôn đề cao vai trò của "Nhà nước pháp quyền xã họi chủ nghĩa" như vậy việc thượng tôn pháp luật là vấn đề tất yếu. Luật sư phân tích vai trò của pháp luật đối với nhà nước, xã ...

Gọi điện Email Chat Zalo Facebook