1. Quy định về kết thúc công trình xây dựng

Quy định về kết thúc công trình xây dựng thì đã được quy định rất cụ thể tại các văn bản pháp luật. Trước đây thì tại Nghị định 59/2015/NĐ-CP được ban hành vào ngày 18 tháng 06 năm 2015 cũng đã đưa ra một điều khoản riêng biệt quy định về kết thúc xây dựng công trình. Theo đó thì tại Điều 38 có quy định như sau:

- Kết thúc xây dựng công trình khi chủ đầu tư đã nhận bàn giao toàn bộ công trình và công trình khi đã hết thời gian bảo hành theo quy định của pháp luật

- Trước khi bàn giao công trình thì nhà thầu xây dựng phải di chuyển hết tài sản của mình ra khỏi khu vực công trường xây dựng. 

Tuy nhiên thì Nghị định 59/2015/NĐ-CP đã hết hiệu lực và nay thì quy định về kết thúc công trình xây dựng được quy định tại khoản c Điều 1 Nghị định 15/2021/NĐ-CP có quy định về kết thúc xây dựng bao gồm các công việc như sau: Quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán dự án hoàn thành, xác nhận hoàn thành công trình, bảo hành công trình xây dựng bàn giao các hồ sơ liên quan và các công việc cần thiết khác. 

Như vậy thì hiện nay khi kết thúc xây dựng thì cần phải tiến hành các công việc như là quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán dự án hoàn thành, xác nhận và hoàn thành công trình, bảo hành công trình xây dựng, bàn giao các hồ sơ giấy tờ liên quan và các công việc cần thiết khác. 

 

2. Trình tự đầu tư xây dựng hiện nay

Trình tự thực hiện đầu tư xây dựng ( ngoại trừ xây dựng nhà ở riêng lẻ) được thực hiện như sau:

Đầu tiên là giai đoạn chuẩn bị dự án. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án thì sẽ bao gồm các nội dung công việc như là khảo sát xây dựng; lập, thẩm định báo cáo nghiêm cứu tiền khả thi dự án đầu tư xây dựng hoặc là báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư nếu có; lập thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phục vụ lập báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế- kỹ thuật đầu tư xây dựng; lập, thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế- kỹ thuật đầu tư xây dựng để phê duyệt dự án, quyết định đầu tư xây dựng và tiến hành thực hiện các công việc cần thiết khác có liên quan đến chuẩn bị dự án. 

Giai đoạn thứ hai trong trình tự thực hiện đầu tư xây dựng là giai đoạn thực hiện các dự án gồm các công việc như sau: Chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn nếu có; khảo sát xây dựng; lập thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng; lựa chon nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; vận hành, chạy thử; nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng; bàn giao công trình đưa vào sử dụng và các công việc cần thiết khác. 

Giai đoạn cuối cùng trong thực hiện đầu tư xây dựng đó là giai đoạn kết thúc xây dựng. Theo quy định pháp luật thì giai đoạn kết thúc xây dựng sẽ bao gồm các công việc như là quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán dự toán hoàn thành, xác nhận hoàn thành công trình, bảo hành công trình xây dựng, bàn giao các hồ sơ có liên quan và các công việc cần thiết khác. 

Như vậy thì trình tự thực hiện dự án đầu tư không phải công trình nhà ở riêng lẻ được thực hiện theo quy trình bao gồm 03 giai đoạn chính đó là giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc xây dựng. Mỗi giai đoạn khác nhau thì có những công việc khác nhau nhằm bảo đảm việc thực hiện dự án đầu tư xây dựng theo quy định pháp luật. 

Ngoài ra thì trình tự thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình khẩn cấp được thực hiện như sau: Người đứng đầu cơ quan trung ương, chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền quy định việc xây dựng công trình khẩn cấp thuộc phạm vi mình quản lý; lệnh xây dựng công trình khẩn cấp được thể hiện bằng văn bản thể hiện các nội dung như là mục đích xây dựng, địa điểm xây dựng, người được giao quản lý, thực hiện xây dựng công trình, thời gian thực hiện xây dựng công trình...Theo đó thì người được giao quản lý thực hiện xây dựng công trình được toàn quyền quyết định toàn bộ vấn đề liên quan đến thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Ngay sau khi kết thúc dự án xây dựng công trình khẩn cấp thì người được giao quản lý thực hiện xây dựng công trình thì có trách nhiệm tổ chức lập và hoàn thiện hồ sơ công trình bao gồm lệnh xây dựng công trình khẩn cấp, các tài liệu liên quan đến khảo sát xây dựng nếu như có, thiết kế điển hình hoặc là thiết kế bản vẽ thi công xây dựng công trình nếu có, các biên bản nghiệm thu, kết quả thí nghiệm quan trắc đo đạc nếu có.... và một số giấy tờ khác có liên quan 

 

3. Sau khi hoàn thành công trình xây dựng thì có bắt buộc phải lưu trữ hồ sơ không

Quy định về công trình xây dựng có bắt buộc phải lưu trữ hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng thì có thể căn cứ theo quy định cụ thể tại Điều 26 Nghị định 06/2021/NĐ-CP. Theo đó thì việc lập, lưu trữ hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng được quy định như sau:

Thứ nhất là chủ đầu tư phải tiến hành tổ chức lập hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng theo quy định tại Phụ lục VIb trước khi tiến hành đưa hạng mục công trình hoặc công tình khai thác, vận hành theo quy định

Thứ hai là hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng được lập một lần chung cho toàn bộ dự án đầu tư xây dựng công trình nếu như các công trình hay hạng mục công trình thuộc dự án được đưa vào khai thác, sử dụng cùng một thời điểm. Trường hợp mà các công trình hạng mục công trình của dự án được đưa vào khai thác , sử dụng ở thời điểm khác nhau thì có thể lập hồ sơ hoàn thành công trình cho riêng từng công trình hạng mục này. 

Thứ ba là chủ đầu tư tổ chức lập và lưu trữ một bộ hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng; các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng công trình lưu trữ các hồ sơ liên quan đến phần việc do mình thực hiện. Trong trường hợp mà không có bản gốc thay thế bằng bản chỉnh bản sao hợp pháp. Còn riêng đối với công trình nhà ở, công trình di tích thì việc lưu trữ hồ sơ còn phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về nhà ở và pháp luật về di sản văn hóa. 

Thứ tư là thời gian lưu trữ hồ sơ tối thiểu là 10 năm đối với công trình thuộc dự án nhóm A, 07 năm đối với công trình thuộc dự án nhóm B và 05 năm đối với công trình thuộc dự án nhóm C. Kể từ khi đưa hạng mục công trình, công trình xây dựng vào sử dụng. 

Cuối cùng đó là hồ sơ nộp lưu trữ lịch sử của công trình thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ. 

Như vậy thì hiện nay pháp luật đã quy định rất cụ thể và rõ ràng về  kết thúc xây dựng công trình xây dựng. Ngoài ra còn quy định cụ thể các quy định khác về hoạt động xây dựng nói chung. 

Các bạn có thể tham khảo thêm một số nội dung bài viết sau đây của chúng tôi để có thêm thông tin hữu ích về kết thúc xây dựng công trình

Trách nhiệm của nhà thầu thi công xây dựng trong việc quản lý thi công xây dựng công trình. 

Sự cố công trình xây dựng là gì? Phân cấp, xử lý sự cố công trình

Trên đây là toàn bộ nội dung mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn có liên quan đến khi nào được kết thúc công trình xây dựng. Mong rằng thông qua những nội dung và thông tin mà chúng tôi cung cấp đã giúp cho các bạn có thêm thật nhiều những thông tin hữu ích có liên quan đến kết thúc công trình xây dựng. Nếu các bạn còn có những câu hỏi thắc mắc khác có liên quan thì liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn