1. Kiểm toán báo cáo tài chính được hiểu là gì?

- Về báo cáo tài chính: Theo chuẩn mực Kiểm toán số 200 và các quy định của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán là thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính một cách đồng bộ và chính xác. Chuẩn mực này được ban hành theo Thông tư 214/2012/TT-BTC và xác định rõ khái niệm báo cáo tài chính như sự trình bày có tổ chức về thông tin tài chính quá khứ, bao gồm các thuyết minh liên quan. Mục đích chính của báo cáo tài chính là công bố thông tin về tình hình tài chính và các nghĩa vụ tài chính của đơn vị tại một điểm thời gian hoặc trong một khoảng thời gian nhất định. Báo cáo được lập và trình bày phải tuân thủ khuôn khổ quy định về lập và trình bày báo cáo tài chính.

Các thuyết minh liên quan thường chứa đựng tóm tắt về các chính sách kế toán quan trọng và thông tin diễn giải khác. Thuật ngữ "báo cáo tài chính" thường ám chỉ một bộ báo cáo tài chính đầy đủ theo quy định. Ngược lại, thuật ngữ "báo cáo tài chính riêng lẻ" được sử dụng để chỉ đến một phần của bộ báo cáo tài chính đầy đủ.

- Về Kiểm toán: đó là quá trình tổng hợp và đánh giá mọi bằng chứng liên quan đến thông tin tài chính được cung cấp bởi kế toán viên có đủ năng lực và độc lập. Mục tiêu của quá trình này là xác minh tính chính xác, trung thực và hợp lý của hồ sơ, tài liệu, và số liệu từ các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cũng như lập báo cáo để đánh giá mức độ tuân thủ của thông tin đó với các chuẩn mực chung được công nhận.

Trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính, nhiệm vụ chính của các kiểm toán viên là thu thập bằng chứng kiểm toán để kiểm tra và đánh giá báo cáo tài chính. Mục đích cuối cùng là đưa ra ý kiến về tính trung thực và chính xác của báo cáo tài chính.

Theo đó, trong quá trình kiểm toán Báo cáo Tài chính (BCTC), kiểm toán viên cần tuân thủ bốn nguyên tắc cơ bản nhất. Đó là:

- Tuân thủ các quy định pháp luật liên quan.

- Tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp.

- Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn trong lĩnh vực kiểm toán.

- Phải có thái độ nghi vấn, mang tính nghề nghiệp, để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của quá trình kiểm toán.

Qua quá trình kiểm toán BCTC, kiểm toán viên không chỉ đóng vai trò đưa ra ý kiến về các số liệu trong BCTC mà còn giúp tăng cường độ tin cậy của người sử dụng hoặc đọc BCTC. Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra xem BCTC được lập có tuân thủ đúng các khía cạnh quan trọng và có phù hợp với khuôn khổ lập và trình bày BCTC hay không.

Kiểm toán BCTC không chỉ mang lại sự tin cậy cho người sử dụng mà còn giúp doanh nghiệp nhìn nhận và sửa chữa các sai sót, lỗi lạc tồn tại trong quá trình tài chính. Điều này không chỉ giúp hạn chế rủi ro về thuế mà còn nâng cao chất lượng của đội ngũ kế toán trong doanh nghiệp và cải thiện thông tin tài chính được kiểm toán.

 

2. Mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính là gì?

Dựa trên Chuẩn mực Kiểm toán số 200 và quy định của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, được ban hành theo Thông tư 214/2012/TT-BTC, các điều cụ thể được xác định như sau:

Mục tiêu chính của kiểm toán báo cáo tài chính là nâng cao độ tin cậy của người sử dụng đối với báo cáo tài chính. Điều này được thực hiện thông qua việc kiểm toán viên phê duyệt ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập và trình bày đúng đắn, đặc biệt là đối với các khía cạnh quan trọng và sự phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính. Đối với hầu hết các mô hình lập và trình bày báo cáo tài chính dành cho mục đích chung, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, tập trung đặc biệt vào các khía cạnh quan trọng và việc tuân thủ khuôn khổ lập và trình bày báo cáo tài chính.

Quá trình kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, đồng thời tuân thủ chuẩn mực và quy định về đạo đức nghề nghiệp liên quan, sẽ giúp kiểm toán viên xây dựng ý kiến kiểm toán một cách chặt chẽ và đầy đủ.

 

3. Công ty nào cần phải kiểm toán báo cáo tài chính?

Kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và yêu cầu phải tuân thủ các quy định và thủ tục pháp luật đặt ra. Theo quy định của pháp luật, các loại doanh nghiệp và công ty sau đây được xác định là đối tượng bắt buộc phải thực hiện kiểm toán BCTC:

- Doanh nghiệp và công ty với vốn đầu tư nước ngoài.

- Tổ chức tín dụng theo Luật các tổ chức tín dụng, bao gồm cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

- Tổ chức tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.

- Công ty đại chúng, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán.

- Doanh nghiệp và tổ chức theo quy định của pháp luật.

- Doanh nghiệp nhà nước, trừ doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước, phải kiểm toán BCTC hàng năm.

- Doanh nghiệp và tổ chức thực hiện dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước, trừ các dự án trong lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước, phải kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành.

- Doanh nghiệp và tổ chức có tập đoàn hoặc tổng công ty nhà nước nắm giữ từ 20% quyền biểu quyết trở lên vào cuối năm tài chính phải được kiểm toán BCTC hàng năm.

- Doanh nghiệp có tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành và tổ chức kinh doanh chứng khoán nắm giữ từ 20% quyền biểu quyết trở lên vào cuối năm tài chính phải được kiểm toán BCTC hàng năm.

- Doanh nghiệp kiểm toán và chi nhánh của doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam phải được kiểm toán BCTC hàng năm.

 

4. Công ty có được thuê đơn vị kiểm toán độc lập vào kiểm toán lại báo cáo tài chính không?

Theo quy định tại Điều 37 Luật Kiểm toán độc lập 2011 có quy định:

- Các doanh nghiệp và tổ chức mà theo quy định của pháp luật cần phải tổng hợp và báo cáo tài chính hàng năm đều phải chịu sự kiểm toán từ doanh nghiệp kiểm toán hoặc chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài đặt tại Việt Nam. Bao gồm:

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư từ nước ngoài.

+ Tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật về các tổ chức tín dụng.

+ Tổ chức tài chính, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.

+ Công ty đại chúng, tổ chức phát hành, và tổ chức kinh doanh chứng khoán.

- Các doanh nghiệp và tổ chức cần phải được kiểm toán bởi doanh nghiệp kiểm toán hoặc chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm:

    + Doanh nghiệp nhà nước, trừ những doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật, chỉ cần kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm;

    + Doanh nghiệp và tổ chức thực hiện các dự án quan trọng quốc gia hoặc dự án thuộc nhóm A được tài trợ bằng vốn nhà nước, trừ những dự án trong lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật, chỉ cần kiểm toán đối với báo cáo quyết toán dự án hoàn thành;

    + Doanh nghiệp và tổ chức có vốn góp từ Nhà nước và các dự án sử dụng vốn nhà nước khác do Chính phủ quy định, cần kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm hoặc báo cáo quyết toán dự án hoàn thành;

    + Doanh nghiệp kiểm toán và chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam cần kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm.

- Việc kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán dự án hoàn thành đối với các doanh nghiệp và tổ chức quy định tại các điểm a, b và c trong khoản 2 của Điều này không thay thế cho việc kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước.

- Các doanh nghiệp và tổ chức khác có thể tự nguyện chọn lựa kiểm toán.

Theo quy định đã được trình bày, việc kiểm toán của doanh nghiệp sẽ được thực hiện nếu nó thuộc các đối tượng được nêu trên, ngược lại, quá trình kiểm toán sẽ phụ thuộc vào quy định của chính doanh nghiệp đó.

Bài viết liên quan: Doanh nghiệp nào cần phải được kiểm toán báo cáo tài chính năm ? 

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!