Trong giao kết hợp đồng có một khái niệm thường được nhắc đến đó là consideration. Tuy nhiên rất nhiều người chưa hiểu rõ khái niệm này và cũng có rất nhiều quan điểm đưa ra để giải thích thuật ngữ này. Tìm hiểu về thuật ngữ này sẽ giúp chúng ta thuận tiện hơn trong việc thực hiện hợp đồng.
1. Consideration là gì?
Consideration trong hợp đồng có nghĩa là sự xem xét, đây là một yếu tố cần thiết để hợp đồng được xem là có hiệu lực. Nó được định nghĩa là một giá trị hay lợi ích mà một bên cam kết cung cấp cho bên kia. Và đôi khi được gọi là sự trao đổi giá trị.
Ví dụ trong một hợp đồng bán hàng, giá tiền mà người mua cam kết trả cho người bán là consideration. Người bán cam kết cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho người mua và trong trao đổi này cả hai bên đều nhận được lợi ích.
Để hợp đồng được coi là có hiệu lực, consideration phải được xác định rõ ràng và có giá trị pháp lý, nó cũng phải là sự trao đổi giữa các bên và không được coi là một món quà hay lời hứa miễn phí mà không có giá trị tương ứng trao đổi.
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm khi nhắc đến consideration trong hợp đồng. Cụ thể, theo pháp luật Anh Mỹ consideration được coi là một trong những vấn đề tiên quyết trong việc có đồng ý giao kết hợp đồng hay không. Cụ thể hiểu consideration là yếu tố đầu tiên và là sự biểu thị cam kết của ít nhất 1 trong các bên khi tham gia hợp đồng để được thực hiện một hoạt động trong tương lai đã được đề cập đến. Một quan điểm khác cho rằng consideration liên quan đến các loại hứa hẹn mà pháp luật sẽ được thực thi hay consideration là điều có giá trị hứa hẹn của một bên nhằm đổi lấy một cái khác có giá trị của bên còn lại. Trong hợp đồng sự trao đổi này là ràng buộc các bên với nhau thực chất consideration chính là một sự gắn kết giữa các bên trong một hợp đồng đó là sự cho đi của một bên chủ thể trong hợp đồng để đổi lại một lợi ích nào đó từ bên còn lại của hợp đồng. Tuy nhiên sự trao đổi này sẽ trở thành giao ước được Pháp luật bảo hộ.
2. Một số loại hình Consideration
+ Một số loại hình Consideration phổ biến đó là tiền, tài sản và dịch vụ. Tiền được coi là một trong những consideration phổ biến nhất hiện nay mà được các bên đưa ra để đổi lấy sự đồng ý về giao kết trong hợp đồng. Trong trường hợp sử dụng tiền để làm consideration, các bên được tự do thỏa thuận với mức consideration được nhận, trừ những trường hợp quy định cụ thể về mức consideration. Hiện nay tiền được coi là phương tiện trao đổi trung gian của hầu hết mọi hàng hóa. Tuy nhiên khi tiền chưa được coi là vật trung gian trong trao đổi buôn bán thì tài sản và dịch vụ cũng được coi là một consideration phổ biến. Khi đồng tiền mất giá trị, các bên sẽ chọn Consideration là một loại tài sản hoặc một loại dịch vụ nào đó thay vì nhận consideration là tiền mặt. Hiện nay pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới vẫn coi consideration tài sản và dịch vụ là hợp lệ.
+ Cam kết làm từ thiện cam kết làm từ thiện là một trong những consideration được sử dụng rộng rãi và được pháp luật công nhận. Trên thế giới và cả Việt Nam đều có những tổ chức từ thiện phi lợi nhuận. Những tổ chức này hoạt động dựa trên sự đóng góp của cộng đồng, xã hội. Chính vì vậy các cam kết làm từ thiện cũng được coi là một consideration ràng buộc bên còn lại khi tham gia giao kết hợp đồng. Khi cam kết tài trợ cho một dự án thiện nguyện cụ thể, người làm từ thiện đã thiết lập một consideration đối với tổ chức thiện nguyện và dự án cụ thể đó. Về mặt pháp lý, cam kết từ thiện là một thỏa thuận đơn phương có hiệu lực từ khi dự án khởi công.
+ Hứa không kiện: consideration này xảy ra khi một bên chủ thể của hợp đồng nắm trong tay quyền khởi kiện bên còn lại. Khi đó các bên sẽ thuận thỏa thuận với nhau và bên còn lại sẽ trả cho bên có quyền một khoản tiền nhất định để bên có quyền không thực hiện việc khởi kiện.
3. Quan điểm của pháp luật Việt Nam về consideration
Hiện nay pháp luật dân sự Việt Nam chưa có quy định cụ thể về consideration trong giao kết hợp đồng. Tuy nhiên tại khoản 1 điều 134 bộ luật dân sự 2015 có quy định: chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị. Bản chất của consideration chính là một lời hứa nghĩa vụ có giá trị trao đổi giữa các bên trong giao kết hợp đồng.
Quy định hợp đồng trong pháp luật Việt Nam Theo điều 385 bộ luật dân sự 2015 quy định hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự
Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Trong một quan hệ hợp đồng sẽ xuất hiện những cặp chủ thể tương ứng là người có quyền và người có nghĩa vụ. Trong hợp đồng phải có sự thỏa thuận với nhau về một việc xác định nào đó, ý chí của mỗi bên phải cùng hướng về một mục đích hay còn gọi là sự thống nhất ý chí nhưng không nhất thiết phải thỏa thuận với tất cả những vấn đề xoay quanh hay phát sinh từ mối quan hệ của họ. Những vấn đề mà các bên chưa thỏa thuận vì nhiều lý do mà chủ yếu là do họ không thể lường trước những trường hợp phát sinh bất đồng gặp phải trong tương lai sẽ được dữ liệu trong các quy định của pháp luật về chế định hợp đồng.
Về hệ quả pháp lý hệ quả pháp lý trong giao kết hợp đồng được hiểu là sự tạo lập thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi hoặc một quan hệ pháp luật.
4. Những nguyên tắc cơ bản trong hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam
- Tự do ý chí: nguyên tắc tự do ý chí trong pháp luật hợp đồng được hiểu là các bên được tự do giao kết hợp đồng hay thỏa thuận về việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự theo ý chí của mình, miễn là nó không trái với pháp luật. Một người có quyền tự do giao kết hợp đồng nghĩa là tự do quyết định mình sẽ bị ràng buộc như thế nào và một khi đã tuyên bố ý chí về sự tự ràng buộc thì người đó không còn được tự do thực hiện nghĩa vụ nữa mà sẽ bị cưỡng chế để thực hiện.
- Thiện chí trong lĩnh vực hợp đồng đặc biệt ở giai đoạn sau giao kết. Nguyên tắc thiện chí được giải thích gần gũi với nguyên tắc tự do ý chí, nghĩa là việc xác lập hợp đồng và các điều kiện của nó phụ thuộc vào ý chí của các bên. Trong giai đoạn thực hiện hợp đồng, nguyên tắc này có thể không gắn với ý chí của các bên lúc đầu mà lại gắn với sự công bằng về lợi ích giữa các bên hoặc với việc chấp nhận sự thực hiện chủ yếu chứ không phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của hợp đồng. Thiện chí là sự thông cảm cho những thiếu sót khi thực hiện nghĩa vụ của đối phương, đặc biệt khi vận dụng nguyên tắc này trong một số hoàn cảnh đặc thù có thể coi là tạo ra ngoại lệ cho nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng. Đó là trong trường hợp thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi
- Áp dụng tập quán: nguyên tắc này trong khoa học pháp lý được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng nói riêng và pháp luật dân sự nói chung. Trong một nền pháp luật thường có hai nguồn cơ bản là luật thành văn và tập quán pháp. Tuy nhiên trong thực tế có những tập quán mà các bên viện dẫn trái ngược nhau. Khi không có những dẫn chứng đầy đủ về tập quán thì việc áp dụng và chứng minh tập quán gặp nhiều khó khăn. Các tòa án ở Việt Nam còn gặp nhiều vướng mắc và chưa có sự thống nhất trong việc công nhận và áp dụng tập quán.
Trên đây là một số thông tin luật Minh Khuê cung cấp về consideration và một số thông tin liên quan. Hy vọng đó là những tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm theo dõi.