1. Cướp biển là gì

Cướp biển là cướp tàu, thuyền, tài sản trên tàu, thuyền xảy ra trên biển.

Cướp biển còn gọi là hải tặc.

Hành vi của một nhóm người sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sẽ sử dụng vũ lực để tấn công các tàu thuyền hoạt động ở trên biển nhằm chiếm đoạt những tài sản của họ đã có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội cướp tài sản ở trên biển (thường được gọi tắt là cướp biển). Đây là loại tội phạm rất nguy hiểm, nó đã từng làm đau đầu các lực lượng Cảnh sát biển của nhiều quốc gia. Bởi vậy, nhiều Nhà nước và các tổ chức quốc tế đã cùng nhau hợp tác và liên kết để phòng, chống nhằm ngăn chặn bọn hải tặc gây ra tội phạm này ở trên các vùng biển.

2. Chủ thể và khách thể của tội cướp biển

Khách thể:

Tội phạm này xâm phạm đến sự an toàn hàng hải của nước ta.

Chủ thể:

Dấu hiệu chủ thể của tội cướp biển: Là chủ thể bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi. Tuy nhiên, người thực hiện hành vi phạm tội thường là người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch

Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự

>> Xem thêm:  Đào ngũ là gì ? Khái niệm đào ngũ được hiểu như thế nào ?

3. Mặt khách quan và chủ quan của tội cướp biển

Mặt khách quan:

Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này đã được mô tả cụ thể trong Điều luật trên. Theo đó, người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp biển:

-Hành vi tấn công tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác đang ở biển cả hoặc ở nơi không thuộc quyền tài phán của quốc gia nào. Hành vi tấn công được xác định là tấn công bằng vũ lực nhằm khống chế, thực hiện các hành vi chống lại các phương tiện hàng hải, hàng không trên vùng biển không thuộc quyền tài phán và chủ quyền của bất cứ quốc gia ven biển nào.

- Hành vi tấn công hoặc bắt giữ người trên tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác. Đây là hành vi sử dụng vũ lực tấn công hoặc bắt giữ nhằm vào con người trên phương tiện hàng hải, hàng không xảy ra tại vùng biển cả hoặc vùng không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào. Khác với quy định về hành vi đầu tiên nhắm vào hoạt động bình thường và hợp pháp của các phương tiện di chuyển, hành vi thứ hai nhắm vào con người.

- Hành vi cướp phá tài sản trên tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác. Nếu 02 hành vi đầu là hành vi nhắm vào hoạt động của phương tiện, vào con người trên các phương tiện còn hành vi thứ 3 của tội cướp biển là nhắm vào tài sản. Hành vi “cướp phá” là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng thủ đoạn khác nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc phá hủy, hủy hoại làm hư hỏng tài sản trên các phương tiên bay, phương tiên hàng hải trên các khu vực này.

Về hậu quả của hành vi: Hậu quả không được đề cập đến để làm căn cứ xác định trách nhiệm hình sự bởi đây là tội phạm có cấu thành hình thức.

Mặt chủ quan:

Lỗi trong trường hợp phạm tội cướp biển phải là lỗi cố ý. Trường hợp này thông thường phải là cố ý trực tiếp bởi hành vi tấn công phải luôn nằm trong chủ đích và toan tính rất kỹ của những người thực hiện hành vi. Tức là người phạm tội nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được hậu quả và mong muốn thực hiện hành vi.

4. Hình phạt tội cướp biển

– Khung hình phạt cơ bản: bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

– Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất: bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, khi có một trong các tình tiết tăng nặng sau:

+ Có tổ chức;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

>> Xem thêm:  Quản chế là gì ? Quy định pháp luật về hình phạt quản chế

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

– Khung hình phạt tăng nặng thứ hai: bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, khi có một trong các tình tiết tăng nặng sau:

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

– Khung hình phạt tăng nặng thứ ba: bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, khi có một trong các tình tiết tăng nặng sau:

+ Làm chết người;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

>> Xem thêm:  Bất hồi tố là gì ? Khái niệm về bất hồi tố ?

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

+ Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.

Tội cướp biển không áp dụng hình phạt bổ sung, người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Trong khi, quy định trong Luật Biển Việt Nam năm 2012 nghiêm cấm thực hiện hành vi cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền thực hiện tại các vùng biển thuộc thẩm quyền tài phán của Việt Nam; nếu vi phạm sẽ bị xử lý hình sự, thì BLHS 2015 chỉ mới quy định về hành vi cướp biển được thực hiện ở biển cả hoặc nơi không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào còn các hành vi cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền tại các vùng biển thuộc quyền tài phán thì BLHS Việt Nam lại không có quy định.

Như vậy, việc đấu tranh phòng chống tội phạm cướp biển là nghĩa vụ pháp lý của các quốc gia, mỗi quốc gia đều có quyền bắt giữ tàu thuyền và phương tiện bay đang thực hiện hành vi cướp biển trên vùng biển quốc tế hoặc khu vực không thuộc quyền lực của bất kỳ quốc gia nào.

5. Quy định về tội cướp biển trong Bộ luật hình sự

Điều 302. Tội cướp biển

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Tấn công tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác đang ở biển cả hoặc ở nơi không thuộc quyền tài phán của quốc gia nào;

b) Tấn công hoặc bắt giữ người trên tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác quy định tại điểm a khoản này;

>> Xem thêm:  Truy cứu trách nhiệm hình sự là gì ? Quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự?

c) Cướp phá tài sản trên tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác quy định tại điểm a khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

>> Xem thêm:  Bị công an giữ bằng lái xe sau 1 năm có lấy lại được không ?

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

đ) Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Tội cướp biển được bổ sung mới trên tinh thần các quy định của Công ước Luật biển năm 1982 mà Việt Nam là thành viên nhằm góp phần tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống cướp biển, góp phần bảo đảm an toàn hàng hải và bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người trên biển cả hoặc ở nơi không thuộc quyền tài phán của quốc gia nào.

* Tội cướp biển theo pháp luật quốc tế

Điều 15 Công ước Luật Biển năm 1958 về biển cả đưa ra định nghĩa truyền thống về hành vi cướp biển như sau: hành vi cướp biển là hành vi chiếm đoạt và cầm giữ bất hợp pháp tàu thuyền hoặc hành vi cướp bóc bát kỳ được thực hiện nhằm mục đích tư lợi, được đoàn thủy thủ hoặc hành khách của tàu thuyền hoặc phương tiện bay tư nhân thực hiện trên biển cả nhằm chống lại tàu thuyền hoặc phương tiện bay này, cũng như nhằm chống lại các đối tượng này ở địa điểm không thuộc quyền lực của bất kỳ quốc gia nào.

>> Xem thêm:  Trách nhiệm hình sự là gì ? Phân tích đặc điểm của trách nhiệm hình sự ?

Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLLOS), một trong những hành động sau đây là hành động cướp biển:

– Mọi hành động trái phép dùng hành động hay bắt giữ hoặc bất kỳ sự cướp phá nào do thủy thủ hoặc hành khách trên một chiếc tàu hay một phương tiện bay tư nhân gây nên, vì những mục đích riêng tư, và nhằm:

+ Chống lại một chiếc tàu hay một phương tiện bay khác, hay chống lại những người hay của cải ở trên con tàu hoặc phương tiện bay đỗ ở biển cả;

+ Chống lại một chiếc tàu hay một phương tiện bay, người hay của cải, ở một nơi không thuộc quyền tài phán của một quốc gia nào;

– Mọi hành động tham gia có tính chất tự nguyện vào việc sử dụng một chiếc tàu hay một phương tiện bay, khi người tham gia biết từ những sự việc rằng chiếc tàu hay phương tiện bay đó là một tàu hay phương tiện bay cướp biển;

– Mọi hành động nhằm xúi giục người khác phạm những hành động được xác định ở điểm a hoặc b hay phạm phải với chủ định làm dễ dàng cho các hành động đó.

Trong luật quốc tế đã hình thành có tính truyền thống thực tiễn xét xử cho phép bất kỳ quốc gia nào cũng có thể thi hành thẩm quyền tài phán của mình đối với tội phạm cướp biển. Quy định nguyên tắc phổ cập về phận định thẩm quyền xét xử của các quốc gia với nội dung pháp lý, quốc gia bắt giữ tội phạm cướp biển trên khu vực biển cả (biển quốc tế) cũng có thẩm quyền xét xử đối với tội phạm này.

>> Xem thêm:  Gây tai nạn giao thông trong trường hợp nào sẽ bị phạt tù ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Dấu hiệu khách quan của tội cướp biển?

Trả lời:

– Tấn công tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác đang ở biển cả hoặc ở nơi không thuộc quyền tài phán của quốc gia nào. Đây là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm khống chế hoạt động bình thường và hợp pháp của các phương tiện hàng hải, hàng không trên vùng biển không thuộc quyền tài phán và chủ quyền của bất cứ quốc gia ven biển nào.

– Tấn công hoặc bắt giữ người trên tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác quy định tại điểm a khoản này: Đây là hành vi sử dụng vũ lực tấn công hoặc bắt giữ nhằm vào con người trên tàu biển, tàu bay tại vùng biển cả hoặc vùng không thuộc quyền tài phán của bất kỳ quốc gia nào. Nếu như quy định về hành vi đầu tiên tác động vào hoạt động bình thường và hợp pháp của các phương tiện di chuyển thì hành vi thứ hai tác động đến đối tượng là con người.

– Cướp phá tài sản trên tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác quy định tại điểm a khoản này: Hành vi này có thể được hiểu là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc sử dụng thủ đoạn khác chiếm đoạt tài sản, hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản trên các tàu bay, tàu biển.

Địa điểm phạm tội: Biển cả hoặc nơi không thuộc quyền tài phán của quốc gia nào. Trong đó, Biển cả là tất cả những vùng biển không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, lãnh hải hay nội thủy của một quốc gia cũng như không nằm trong vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo.

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với tội phạm này. Tuy nhiên có thể thấy các hậu quả của tội này như cản trở hoạt động của tàu bay, tàu biển, thiệt hại tính mạng, sức khỏe của các thủy thủ,.. Hậu quả là dấu hiệu để tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Câu hỏi: Dấu hiệu chủ quan của tội cướp biển?

Trả lời:

Người thực hiện tội cướp biển thực hiện với lỗi cố ý (trực tiếp).  Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Thông thường tội cướp biển được thực hiện bởi chiến lược, kế hoạch đã tính toán sẵn từ trước.

Câu hỏi: Dấu hiệu chủ thể của tội cướp biển?

Trả lời:

Là chủ thể bình thường, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi. Tuy nhiên, người thực hiện hành vi phạm tội thường là người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch