- 1. Quy định về hình phạt tử hình hiện nay:
- 2. Đặc điểm của hình phạt tử hình:
- 3. Danh sách các tội theo luật hình sự bị phạt tử hình:
- 4. Các trường hợp hoãn án tử hình:
- 5. Quy định mới về việc thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc
- 5.1. Thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình
- 5.2. Cơ sở vật chất và trang thiết bị, phương tiện sử dụng cho thi hành án tử hình
- 5.3. Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án tử hình
1. Quy định về hình phạt tử hình hiện nay:
Thực tiễn tại Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới cho thấy việc duy trì hình phạt tử hình là một biện pháp cần thiết để trừng trị, răn đe và phòng ngừa các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, việc hạn chế quy định, áp dụng hình phạt tử hình và tiến đến xóa bỏ hình phạt này là xu thế khách quan. Theo hướng đó, từ BLHS năm 1985 đến BLHS năm 2015, luật hình sự Việt Nam đã có nhiều thay đổi trong quy định về hình phạt tử hình qua các lần sửa đổi các BLHS cũng như qua ban hành BLHS mới theo hướng thu hẹp diện các tội danh có quy định hình phạt tử hình; quy định chặt chẽ hơn các điều kiện áp dụng hình phạt tử hình và mở rộng diện đối tượng không áp dụng, không thi hành hình phạt tử hình. Hiện nay có 29 điều trong Bộ luật hình sự năm 2015 cho phép hình phạt tử hình như một hình phạt không bắt buộc. Các cuộc hành quyết đã từng được thực hiện bởi một đội bắn gồm bảy cảnh sát, trong đó các tử tù bị bịt mắt và trói vào cột. Hình thức xử bắn đã được thay thế bằng tiêm thuốc độc vào tháng 11 năm 2011 sau khi Luật Thi hành án hình sự (điều 59) được Quốc hội thông qua. Các loại thuốc được sử dụng để xử tử tù nhân đều được sản xuất trong nước. Người đầu tiên bị xử tử bằng cách tiêm thuốc độc là Nguyễn Anh Tuấn, ngày 20.1.2010, Anh Tuấn bị TAND TP.Hà Nội tuyên án tử hình với hai tội danh giết người và cướp tài sản, nạn nhân ở vụ án này là nhân viên trạm xăng Bùi Thị Nguyệt .
Vào tháng 11 năm 2015, một bản sửa đổi với mục đích nghiêm khắc hóa án tử hình của Bộ luật Hình sự đã được thông qua. Theo các quy định mới (có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2016), hình phạt tử hình đã được bãi bỏ đối với bảy tội: đầu hàng kẻ thù, chống lại trật tự, phá hủy các dự án có tầm quan trọng về an ninh quốc gia, cướp, tàng trữ ma túy, chiếm đoạt ma túy và sản xuất và buôn bán thực phẩm giả. Ngoài ra, những người từ 75 tuổi trở lên được miễn thi hành án cũng như các quan chức bị kết án về tội tham nhũng có thể được giảm tội nếu họ trả lại ít nhất 75% phần tài sản thu được từ hoạt động bất hợp pháp. Hình phạt tử hình không thể được áp dụng đối với người phạm tội vị thành niên, phụ nữ mang thai và phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi tại thời điểm tội phạm được thực hiện hoặc đang bị xét xử. Những trường hợp này, thay vào đó sẽ lĩnh án chung thân.
Từ ngày 6 tháng 8 năm 2013 đến ngày 30 tháng 6 năm 2016, Việt Nam đã xử tử 429 người. 1.134 người đã bị kết án tử hình từ tháng 7 năm 2011 đến tháng 6 năm 2016. Số lượng người đang chờ thi hành án không được biết.
2. Đặc điểm của hình phạt tử hình:
Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.
Tử hình là một trong những loại hình phạt trong bộ luật hình sự. Tuy nhiên khác với các loại hình phạt khác tử hình là một loại hình phạt đặc biệt, hình phạt tử hình có những đặc điểm riêng so với các loại hình phạt khác cụ thể như sau:
-Thứ nhất tử hình là một loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt.
- Thứ hai, hình phạt tử hình có mục đích phòng ngừa tái phạm tội mới từ phía người bị kết án một cách triệt để nhưng không có mục đích giáo dục người bị kết án vì đã tước bỏ cơ hội tái hòa nhập và phục thiện của họ;
- Thứ ba, hình phạt tử hình có khả năng đạt được hiệu quả cao trong phòng ngừa chung;
- Thứ tư, hình phạt tử hình là hình phạt không có khả năng khắc phục khi bị quyết định sai.
| Chương | Điều |
|---|---|
| XIII - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia | 108, 109, 110, 112, 113, 114, 115 |
| XIV - Các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người | 123, 141, 142 |
| XV - Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do dân chủ của công dân | không có |
| XVI - Các tội xâm phạm quyền sở hữu | 168, 174 |
| XVII - Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình | không có |
| XVIII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế | 188, 190, 203 |
| XIX - Tội phạm liên quan đến môi trường | không có |
| XX - Tội phạm liên quan đến ma túy | 248, 249, 252 |
| XXI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng | 282, 299 |
| XXII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính | không có |
| XXIII - Các tội phạm về chức vụ | 353, 354, 364 |
| XXIV - Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp | không có |
| XXV - Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu | 395, 399, 401 |
| XXVI - Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội ác chiến tranh | 421, 422, 423 |
4. Các trường hợp hoãn án tử hình:
Theo đó, Hội đồng thi hành án tử hình quyết định hoãn thi hành án tử hình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Người bị kết án tử hình thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Điều 40. Tử hình ...
3. Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
b) Người đủ 75 tuổi trở lên;
c) Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.
- Có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
- Ngay trước khi thi hành án người bị kết án tử hình khai báo những tình tiết mới về tội phạm.
So với quy định hiện hành, Luật Thi hành án hình sự 2019 bổ sung thêm trường hợp người bị kết án tử hình nhưng được hoãn thi hành án gồm có:
- Người đủ 75 tuổi trở lên;
- Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.
Đồng thời bổ sung trường hợp "có lý do trở ngại khách quan" thì được hoãn thi hành án tử hình.
Khi quyết định hoãn thi hành án tử hình, Hội đồng thi hành án tử hình phải lập biên bản ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm thi hành án; họ, tên, chức vụ của thành viên Hội đồng; lý do hoãn thi hành án.
Biên bản hoãn thi hành án phải được tất cả các thành viên Hội đồng ký, lưu hồ sơ thi hành án tử hình và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
5. Quy định mới về việc thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc
Ngày 08/4/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2020/NĐ-CP quy định về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc. Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/4/2020.
Nghị định này quy định về thuốc tiêm; cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện sử dụng cho thi hành án tử hình; quy trình thực hiện việc tiêm thuốc; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án tử hình; điều kiện bảo đảm cho thi hành án tử hình và chế độ, chính sách đối với cán bộ tham gia thi hành án tử hình.
5.1. Thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình
Thuốc tiêm để sử dụng cho thi hành án tử hình bao, gồm: thuốc làm mất tri giác; thuốc làm liệt hệ vận động; thuốc làm ngừng hoạt động của tim.
Thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình do Bộ Y tế cấp theo đề nghị của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng căn cứ vào tình hình thực tiễn để đầu tư xây dựng nhà thi hành án tử hình và phòng làm việc của Hội đồng thi hành án tử hình tại Công an cấp tỉnh, đơn vị quân đội cấp quân khu để bảo đảm phục vụ công tác thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc.
5.2. Cơ sở vật chất và trang thiết bị, phương tiện sử dụng cho thi hành án tử hình
Trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho thi hành án tử hình bao, gồm: giường nằm có các đai dùng để cố định người bị thi hành án; máy tiêm thuốc tự động có ấn nút điều khiển; máy kiểm tra nhịp đập của tim; màn hình và các thiết bị theo dõi, kiểm tra quá trình thi hành án; các dụng cụ và trang thiết bị khác phục vụ cho thi hành án.
5.3. Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án tử hình
Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án tử hình; ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc; phối hợp với Bộ Quốc phòng bảo đảm công tác thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc cho các đối tượng bị kết án tử hình do Bộ Quốc phòng quản lý; ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân làm nhiệm vụ thi hành án tử hình; xây dựng kế hoạch, chương trình đào tạo, tập huấn cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân làm nhiệm vụ thi hành án tử hình; lập dự toán kinh phí để đảm bảo cho công tác thi hành án tử hình trong Công an nhân dân; chỉ đạo Công an các cấp thực hiện chế độ báo cáo, thống kê và tổng kết về thi hành án tử hình; tổng kết, báo cáo, thống kê nhà nước về thi hành án tử hình...
Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc trong Quân đội nhân dân; ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án tử hình trong Quân đội nhân dân; phối hợp với Bộ Công an bảo đảm công tác thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc cho các đối tượng bị kết án tử hình do Bộ Quốc phòng quản lý; chỉ đạo cấp quân khu, Bộ tư lệnh Bộ đội biên phòng thực hiện đúng quy định của pháp luật về thi hành án tử hình; ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân làm nhiệm vụ thi hành án tử hình; xây dựng kế hoạch chương trình đào tạo, tập huấn cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân làm nhiệm vụ thi hành án tử hình; lập dự toán kinh phí để bảo đảm cho công tác thi hành án tử hình trong Quân đội nhân dân; phối hợp với Bộ Công an trong việc báo cáo, thống kê và tổng kết công tác thi hành án tử hình.
Bộ Y tế có trách nhiệm bảo đảm nguồn cung ứng thuốc để sử dụng cho thi hành án tử hình theo kế hoạch dự trù thuốc hàng năm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; hướng dẫn bảo quản, sử dụng các loại thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình; chủ trì phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng ban hành danh mục thuốc, liều lượng thuốc sử dụng, quy trình sử dụng thuốc để sử dụng cho thi hành án tử hình. Chỉ đạo các cơ quan nghiệp vụ, bệnh viện, cơ sở đào tạo y tế phối hợp với Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam của Bộ Công an, Cơ quan thi hành án hình sự của Bộ Quốc phòng đào tạo, tập huấn nghiệp vụ kỹ thuật chuyên ngành y tế có liên quan đến việc thi hành án tử hình cho cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ thi hành án tử hình...
Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm cấp đất để xây dựng địa điểm thi hành án tử hình, chỉ định nơi mai táng người bị thi hành án tử hình. UBND cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo Công an cấp huyện, Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện, UBND cấp xã thực hiện và tham gia phối hợp với các cơ quan liên quan trong thi hành án tử hình; làm thủ tục khai tử cho người bị thi hành án tử hình là người nước ngoài. UBND cấp xã nơi tổ chức thi hành án tử hình có trách nhiệm tham gia bảo đảm an ninh, trật tự nơi thi hành án; cử đại diện chứng kiến việc thi hành án tử hình; làm thủ tục khai tử cho người bị thi hành án tử hình; phối hợp với Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc mai táng và quản lý mộ của người đã bị thi hành án tử hình...