- 1. Quy định về hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp
- 2. Trách nhiệm của các bên khi tham gia ký kết hợp đồng
- 3. Đặc điểm của hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp
- 3.1. Về chủ thể
- 3.2. Về mục đích
- 3.3. Về thời điểm giao kết
- 3.4. Về trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng
- 4. Bình luận quy định về chuyển giao quyền và nghĩa vụ của hợp đồng ký kết trước đăng ký doanh nghiệp
1. Quy định về hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp
Luật doanh nghiệp cũ năm 2014 quy định tại Điều 19 như sau:
1. Người thành lập doanh nghiệp được ký các loại hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp.
2. Trường hợp doanh nghiệp được thành lập thì doanh nghiệp phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp các bên hợp đồng có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp doanh nghiệp không được đăng ký thành lập thì người ký kết hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm hoặc người thành lập doanh nghiệp liên đới chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó.
Tại Luật doanh nghiệp 2020 tiếp tục kế thừa nội dung này và có sửa đổi về câu từ chính xác hơn. Cụ thể, Điều 18 quy định như sau:
1. Người thành lập doanh nghiệp được ký hợp đồng phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp.
2. Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết quy định tại khoản 1 Điều này và các bên phải thực hiện việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp trong hợp đồng có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp doanh nghiệp không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người ký kết hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng; trường hợp có người khác tham gia thành lập doanh nghiệp thì cùng liên đới chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó.
Có thể thấy, quy định tại Luật doanh nghiệp 2020 sử dụng cụm từ “được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” có phần chính xác hơn cụm từ “được thành lập” ở Luật doanh nghiệp cũ năm 2014.
Ở khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2020 có bổ sung thêm quy định về việc “phải thực hiện việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự”.
Ở khoản 3 sử dụng cụm từ “có người khác tham gia thành lập doanh nghiệp” chính xác hơn quy định ở khoản 3 Điều 19 Luật doanh nghiệp cũ 2014. Bởi lẽ, rõ ràng là người thành lập doanh nghiệp là người đứng ra ký hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp, do vậy với ý nghĩ muốn bổ sung thêm trách nhiệm của người khác tham gia thành lập doanh nghiệp trong việc thực hiện hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp phải quy định như ở Khoản 3 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2020 mới là chính xác. Quy định của Luật doanh nghiệp cũ 2014 khiến người đọc mập mờ về chủ thể được nhắc đến.
2. Trách nhiệm của các bên khi tham gia ký kết hợp đồng
- Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: doanh nghiệp phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết và các bên phải thực hiện việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp trong hợp đồng có thỏa thuận khác. Quy định này là hoàn toàn hợp lý vì suy cho cùng, mục đích của hợp đồng là phục vụ lợi ích cho doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp đã được công nhận trước pháp luật, doanh nghiệp sẽ phải tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng nhân danh chính mình.
- Trường hợp doanh nghiệp không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người ký kết hợp đồng chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng; trường hợp có người khác tham gia thành lập doanh nghiệp thì cùng liên đới chịu trách nhiệm thực hiện hợp đồng đó. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của bên còn lại khi giao kết hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp. Trong trường hợp doanh nghiệp không được đăng ký kinh doanh thì người ký kết hợp đồng nhân danh mình chịu trách nhiệm hoặc những người thành lập liên đới chịu trách nhiệm.
Đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân, vì đặc tính không có tư cách pháp nhân sau khi thành lập nên sẽ không đặt ra vấn đề phân biệt trách nhiệm của chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp tư nhân trước và sau khi thành lập. Trong mọi trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân đều phải chịu trách nhiệm vô hạn. Vấn đề chịu trách nhiệm của hợp đồng ký trước khi thành lập doanh nghiệp chỉ đặt ra đối với người thành lập doanh nghiệp là thành viên công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cổ đông sáng lập công ty cổ phần.
3. Đặc điểm của hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp
Theo quy định của Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2020, hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp là hợp đồng được giao kết bởi một bên là người thành lập doanh nghiệp, phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trước và trong quá trình đăng ký doanh nghiệp.
Hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp có các đặc điểm sau đây:
3.1. Về chủ thể
Một trong các bên giao kết hợp đồng là người thành lập doanh nghiệp. Theo khoản 25 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2020, người thành lập doanh nghiệp là cá nhân, tổ chức thành lập hoặc góp vốn để thành lập doanh nghiệp. Như vậy, người ký kết hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp năm 2020 có thể vừa là (a) cá nhân, tổ chức thành lập doanh nghiệp, cũng có thể là (b) cá nhân, tổ chức góp vốn để thành lập doanh nghiệp.
3.2. Về mục đích
Mục đích của việc giao kết hợp đồng là nhằm phục vụ cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, nên doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của chính pháp nhân đối với nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh do vi phạm hợp đồng. Doanh nghiệp tương lai sẽ phải tiếp nhận thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ một hợp đồng mà chính pháp nhân doanh nghiệp không ký kết.
3.3. Về thời điểm giao kết
Thời điểm giao kết hợp đồng là trước và trong quá trình thành lập doanh nghiệp. Như đã phân tích ở trên, thời điểm doanh nghiệp chưa thành lập thì chưa có tư cách pháp nhân để trở thành một bên chủ thể của hợp đồng. Có thể dựa trên các quy định riêng tại từng chế định về các loại hình doanh nghiệp để xác định thời điểm doanh nghiệp được thành lập. Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, chính vì vậy, từ thời điểm ấy trở đi, các công ty mới có thể tự mình xác lập, thực hiện và thay đổi hợp đồng với chủ thể khác. Trước thời điểm ấy, các hợp đồng được giao kết vì lợi ích công ty thì do người thành lập công ty giao kết.
3.4. Về trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng
Trường hợp doanh nghiệp không được thành lập, người mang nghĩa vụ và chịu trách nhiệm đối với vi phạm hợp đồng là người trực tiếp giao kết hợp đồng, trong trường hợp này là người thành lập doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp được thành lập, doanh nghiệp phải tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Bốn đặc điểm trên đã khái quát hoá định nghĩa của hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp theo cách nhìn nhận hiện đại của pháp luật Việt Nam. Các hợp đồng này có thể là hợp đồng được người thành lập doanh nghiệp giao kết với người không phải người thành lập doanh nghiệp, hoặc có thể là hợp đồng giao kết giữa những người thành lập doanh nghiệp với nhau. Tuy nhiên, vấn đề được quan tâm nhất về dạng hợp đồng này là sự xung đột giữa chủ thể giao kết và chủ thể thực hiện hợp đồng, từ đó gây ra sự khó khăn trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm với bên đối ứng.
4. Bình luận quy định về chuyển giao quyền và nghĩa vụ của hợp đồng ký kết trước đăng ký doanh nghiệp
Về nguyên tắc, người giao kết hợp đồng bị ràng buộc bởi quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong hợp đồng. Đây là nguyên tắc mang tính nền tảng của chế định hợp đồng, bởi hợp đồng là nguồn gốc căn bản và quan trọng của nghĩa vụ. Nếu không có sự chuyển giao hoặc pháp luật không quy định thì người thành lập doanh nghiệp đã giao kết hợp đồng trước đăng ký doanh nghiệp phải tiếp tục thực hiện và chịu trách nhiệm phát sinh từ việc vi phạm hợp đồng đó, bất luận hợp đồng có được giao kết vì lợi ích của công ty hay không. Chỉ khi công ty không được thành lập thì lúc ấy, người thành lập doanh nghiệp mới phải chịu trách nhiệm cá nhân từ việc vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng đã giao kết.
Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thành lập doanh nghiệp và của cả bên có quyền yêu cầu, trước đây, pháp luật về doanh nghiệp quy định công ty sau thành lập tiếp nhận quyền và nghĩa vụ phát sinh theo hợp đồng. Luật doanh nghiệp cũ năm 2014 đã sửa đổi điều khoản này. Theo đó, doanh nghiệp sau thành lập phải tiếp tục thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, tiếp tục thực hiện hợp đồng không có nghĩa là phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với hợp đồng đã được giao kết; đồng thời, việc quy định như thế không giải trừ nghĩa vụ của người thành lập doanh nghiệp khỏi hợp đồng ký kết trước đăng ký doanh nghiệp. Điểm mới mang tính đột phá trong Luật doanh nghiệp năm 2020 là quy định các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng được người thành lập doanh nghiệp chuyển giao cho công ty theo quy định của Bộ luật dân sự.
Đối chiếu các quy định về chuyển giao quyền và nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự, có một số vấn đề chưa thật sự sáng tỏ sau đây:
Thứ nhất, việc buộc các bên thực hiện chuyển giao nếu không có thỏa thuận khác tạo ra một ngoại lệ cho nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng. Đối với công ty được thành lập, pháp nhân này buộc phải nhận chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng từ người thành lập doanh nghiệp, nếu các bên không có thỏa thuận khác. Giả sử sau khi thành lập, công ty mới không mặn mà với việc nhận chuyển giao thì có quyền không tiến hành chuyển giao hay không? Luật Doanh nghiệp chưa dự liệu chế tài đối với trường hợp này.
Thứ hai, người thành lập doanh nghiệp giao kết hợp đồng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm từ việc vi phạm hợp đồng nếu bên có quyền không đồng ý việc chuyển giao (khoản 1 Điều 370 BLDS năm 2015). Mặc dù quy định đã đề cao nguyên tắc thỏa thuận, song thực tế vẫn có thể xảy ra trường hợp các bên không thỏa thuận do nhiều lý do, nếu bên có quyền không đồng ý việc chuyển giao thì công ty không thể trở thành chủ thể của hợp đồng.
Thứ ba, quyền và nghĩa vụ hợp đồng được chuyển giao toàn bộ hay các bên có thể chuyển giao một phần quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng? Hiện tại, Bộ luật dân sự năm 2015 chưa dự liệu vấn đề chuyển giao toàn bộ quyền và nghĩa vụ theo một hợp đồng, mà chỉ dự liệu việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ chung chung. Điều này có thể dẫn đến việc các bên chỉ chuyển giao một phần quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng, và vì thế, không giải phóng hoàn toàn chủ thể giao kết hợp đồng ban đầu khỏi nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh từ việc vi phạm hợp đồng.
Thứ tư, hình thức của việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng không được xác định trong văn bản luật. Các bên có thể áp dụng Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015 để nhìn nhận tính hợp lệ của việc chuyển giao thể hiện qua lời nói, qua văn bản, qua thông điệp điện tử hoặc hành vi cụ thể hay không?
Trường hợp việc chuyển giao được ghi nhận thành một hợp đồng chuyển giao, hợp đồng này có thay thế hợp đồng trước đó, và từ đó chấm dứt hiệu lực của hợp đồng giao kết trước đăng ký doanh nghiệp hay không? Đây là những vấn đề chưa được hướng dẫn cụ thể và để tăng tính khả thi cho quyết định này trên thực tế cần thiết có sự hướng dẫn chi tiết từ các nhà làm luật trong thời gian tới.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập