1. Nhãn hiệu là gì?

Nhãn hiệu là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu phải là những dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ hoặc sự kết hợp của các yêu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.

Cơ sở pháp lý việc đăng ký nhãn hiệu không trung thực: 

Căn cứ vào Điều 96 và Điều 117 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có quy định về đăng ký nhãn hiệu không trung thực hay đăng ký nhãn hiệu với dụ ý xấu là một trong những điểm nổi bật của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về đăng ký nhãn hiệu.Nội dung quy định về đăng ký nhãn hiệu không trung thực

- Điểm a khoản 1 Điều 96 Luật sở hữu trí tuệ 2005 quy định: "Văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực trong trường hợp người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu với dụ ý xấu"

- Điều 117 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định: "Đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ trong trường hợp có cơ sở để khẳng định rằng người nộp đơn không có quyền đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc đăng ký nhãn hiệu với dụ ý xấu"

2. Đăng ký nhãn hiệu không trung thực là như thế nào?

Đăng ký nhãn hiệu không trung thực là hành vi thực hiện đăng ký nhãn hiệu với mục đích không phù hợp hoặc có động cơ trục lợi từ hành vi này. Luật sở hữu trí tuệ không quy định rõ của hành vi này, tuy nhiên có quy định rải rác trong các điều luật. Vậy, những hành vi nào được xem là đăng ký nhãn hiệu không trung thực?

Không sử dụng nhãn hiệu sau khi đăng ký được xem là một trong những trường hợp cần lưu ý. Chỉ tính riêng nhãn hiệu đã đăng ký không sử dụng trong kinh doanh thì chưa đủ điều kiện để xác định đây là trường hợp không trung thực hay không. Tuy nhiên, căn cứ "không sử dụng" vẫn được đặt ra để xác định đơn đăng ký có thuộc những trường hợp vi phạm hay không. Việc có hay không có động cơ thiếu trung thực tại thời điểm nộp đơn một phần sẽ dựa vào vấn đề này. Khi nhãn hiệu được nộp đơn bởi một chủ thể nào đó mà không sử dụng thực tế cho hoạt động thương mại thì rất có thể việc nộp đơn là có động cơ không trung thực.

Một trong những biểu hiện khác của động cơ là xác định phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu. Xác định phạm vi là công đoạn đăng ký những danh mục hàng hóa, dịch vụ. Không trung thực trong giai đoạn này là đăng ký thừa những danh mục sản phẩm. Tức về thực tế cũng như về chiến lược kinh doanh lâu dài, doanh nghiệp chưa sản xuất hoặc kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ đăng ký.

Ngoài ra còn một số trường hợp bị đánh giá là thuộc những hành vi không trung thực như cung cấp thông tin sai lệch trong đơn. Đơn đăng ký nhãn hiệu là căn cứ duy nhất để Cục thẩm định khả năng bảo hộ nhãn hiệu. Mọi thông tin cung cấp trong đơn đều phải chính xác và phù hợp với các tài liệu kèm theo cũng như thực tế kinh doanh nhãn hiệu. Nếu phát hiện ra bất cứ thông tin nào có dấu hiệu không đúng thì sẽ được xác định là hành vi đăng kí nhãn hiệu không trung thực.

3. Mục đích của việc quy định đăng ký nhãn hiệu không trung thực

Quy định về việc đăng ký nhãn hiệu không trung thực (dụ ý xấu) nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ sở hữu nhàn hiệu thực sự và là cơ sở để các chủ sở hữu nhãn hiệu có căn cứ bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, đòi lại quyền sở hữu nhãn hiệu một cách hợp pháp. Sở dĩ, Luật sở hữu trí tuệ thêm quy định mơi như vậy nhằm giải quyết các xung đột được quy định ngay trong chính Luật sở hữu trí tuệ. Cụ thể:

- Quy định về đăng ký nhãn hiệu không trung thực nhằm hạn chế việc đầu cơ khi đăng ký nhãn hiệu của một số chủ thể khi có thông tin liên quan đến các nhãn hiệu có khả năng phát triển trong tương lai tại thì trường Việt Nam

- Quy định về đăng ký nhãn hiệu không trung thực là cơ sở để các chủ sở hữu sử dụng quyền phản đối đăng ký nhãn hiệu hoặc yêu cầu hủy bỏ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu khi có người chiếm dụng thiếu trung thực và dụ ý xấu để lấy lại nhãn hiệu của mình.

- Hạn chế việc sở hữu nhãn hiệu thực sự phải minh chứng hoặc chỉ được chấp nhận khi có bằng chứng rõ ràng chứng minh rằng chủ đơn đăng ký nhãn hiệu không trung thực đã biết rõ về nhãn hiệu của chủ nhãn hiệu đích thực thông qua mối quan hệ hợp tác kinh doanh.

- Hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền sở hữu nhãn hiệu của chủ sở hữu nhãn hiệu đích danh.

- Quy định về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, theo đó, cho phép cấp văn bằng bảo hộ cho người nộp đơn sớm nhất, kể cả người đó nộp đơn đăng ký nhãn hiệu không trung thực, việc nộp đơn nhằm chiếm dụng quyền sở hữu hợp pháp của người sử dụng nhãn hiệu, hoặc nhãn hiệu đã có trên thị trường quốc tế, Việt Nam nhưng chưa xác lập quyền. Do đó, quy định về đăng ký nhãn hiệu không trung thực nhằm hạn chế các chủ thể lợi dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên để chiếm dụng nhãn hiệu của chủ thể khác để trục lợi bất hợp pháp.

Quy định về đăng ký nhãn hiệu không trung thực hỗ trợ chủ sở hữu bảo vệ quyền lợi của mình, tránh bị thiệt hại thậm chí phải mua lại nhãn hiệu của chính mình với các chi phí không đáng có, thậm chí phải từ bỏ việc phát triển kinh doanh tại thị trường Việt Nam.

Cách đảm bảo không vi phạm việc đăng kí nhãn hiệu không trung thực: 

- Để chắc chắn cho quy trình đăng ký nhãn hiệu này thì tốt nhất nên sử dụng hình thức thông qua đơn vị đại diện. Vì nếu tự thực hiện đăng kí thì người tiến hành sẽ không thể hiểu hết những quy định, từ đó dẫn đến những sai lầm, sai phạm không đáng có. Nếu những sai phạm mắc phải nghiêm trọng sẽ làm cho văn bằng nếu có được cấp cũng có khả năng bị từ chối ngay sau đó. Vừa mất nhiều thời gian, công sức, không mang lại lợ ích gì. Kèm theo đó là khả năng chủ đơn có thể bị xử lý về những sai lầm nghiêm trọng của mình.

- Trên thực tế, ở Việt Nam các trường hợp khiếu nại phản đối cấp bằng hay hủy bỏ hiệu lực văn bằng với việc đăng ký nhãn hiệu không trung thực diễn ra không phổ biến. Tuy nhiên, để chắc chắn nhất cho văn bằng của mình thì các chủ sở hữu nên thông qua đơn vị đại diện. 

4. Rủi ro khi không đăng kí nhãn hiệu

Mất quyền đăng kí nhãn hiệu: Căn cứ theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được quy định tại Điều 90 Luật sở hữu trí tuệ 2005 thì văn bằng bảo hộ được cấp cho người nộp đơn hợp lệ và có ngày ưu tiên hoặc nộp đơn sớm nhất. Theo đó, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể mất quyền đăng ký nhãn hiệu của mình do người khác đăng kí trước theo nguyên tắc trên.

Khó khăn trong việc cấm người khác sử dụng nhãn hiệu: Căn cứ theo quy định tại Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 về quyền ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu. Theo đó, nếu chủ sở hữu nhãn hiệu không được cấp văn bằng bảo hộ sẽ gặp khó khăn trong việc cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của mình.

Nguy cơ bị xử phạt hành chính và bị kiện vì sử dụng nhãn hiệu trái phép: Theo điểm c, khoản 1 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì chủ sở hữu của nhãn hiệu có yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Cũng theo khoản 1 Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và Nghị định 126/2021/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp thì cơ quan có thẩm quyền và hình thức xử lý gồm (1) khởi kiện tại tòa án nhân dân; (2) xử phạt vi phạm hành chính.

Ảnh hưởng đến uy tín trong kinh doanh: Để xây dựng và phát triển một nhãn hiệu trên thị trường chủ sở hữu nhãn hiệu phải đầu tư rất nhiều về tiền và nhân lực. Tuy nhiên, việc không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu dẫn đến nguy cơ người khác sử dụng nhãn hiệu đó sản xuất cho ra thị trường các sản phẩm kém chất lượng làm ảnh hưởng đến uy tín trong kinh doanh của mình.

Trên đây là nội dung tư vấn của công ty Luật Minh Khuê về vấn đề Đăng ký nhãn hiệu không trung thực. Nếu còn bất kì vướng mắc nào, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật 24/7 theo số: 1900.6162. Rất mong nhận được sự hợp tác.

Trân trọng./.