Cũng qua mạng điện tử, cơ quan ĐKKD tiếp nhận hồ sơ, xem xét hồ sơ, hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung hồ sơ và thông báo thời điểm nhận kết quả ĐKDN qua mạng điện tử. Hồ sơ ĐKDN nộp qua chương trình hỗ trợ ĐKDN thông qua mạng điện tử trên Hệ thống ĐKKD quốc gia có giá trị pháp lý như hồ sơ nộp bằng bản giấy.

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp gọi số: 1900.6162

 

Trường hợp người thành lập doanh nghiệp chưa có chữ ký điện tử, việc đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử vẫn có thể được thực hiện theo quy trình: sau khi hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được chấp thuận trên hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, doanh nghiệp sẽ in Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử từ Hệ thống này. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký tên vào Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử và gửi đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Sau khi nhận được Giấy xác nhận nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử của doanh nghiệp, Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh xem xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.

Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ký tên vào Giấy xác nhận nộp hồ sơ ĐKDN qua mạng điện tử và gửi đến Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Sau khi nhận được Giấy xác nhận này, Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận ĐKDN cho doanh nghiệp.

Hợp nhất mã số ĐKKD và mã số thuế ( Điều 8- Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh)

Một điểm mới của NĐ 43/2010 so với NĐ 88/ 2006, đó là Nghị định 43/2010 quy định mỗi doanh nghiệp sẽ được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp. Mã số này đồng thời là mã số ĐKKD và mã số thuế của doanh nghiệp. Mã số doanh nghiệp tồn tại trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp và không được cấp lại cho đối tượng nộp thuế khác. Khi doanh nghiệp không còn tồn tại thì mã số doanh nghiệp chấm dứt hiệu lực và không được sử dụng lại. Mã số doanh nghiệp được lưu trên Hệ thống ĐKKD quốc gia và được ghi trên Giấy chứng nhận ĐKDN.

Mã số doanh nghiệp được dùng để kê khai nộp thuế cho tất cả các loại thuế, kể cả doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các địa bàn khác nhau.

Rút ngắn thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp ( Điều 28- NĐ 43/2010 về đăng ký kinh doanh)

Thay vì quy định 10 ngày như Nghị định 888/2006 về đăng ký kinh doanh trước đây thì  Nghị định 43/2010 quy định là trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi doanh nghiệp, đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, thông báo lập địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp.

>> Xem thêm:  Tư vấn luật hành chính miễn phí qua tổng đài: 1900.6162

Nếu quá thời hạn trên mà không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp thì người thành lập doanh nghiệp có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Thống nhất lệ phí trên toàn quốc ( Điều 32- NĐ 43 /2010 về đăng ký kinh doanh)

Hiện nay, Hội đồng nhân dân các tỉnh quy định mức lệ phí ĐKKD áp dụng cho tỉnh mình nên dẫn đến việc mức lệ phí ĐKKD không nhất quán giữa các tỉnh, thành phố. Do vậy, Nghị định giao Bộ Tài chính hướng dẫn mức lệ phí ĐKDN để thống nhất thực hiện trên phạm vi toàn quốc.

Đồng thời, Nghị định bổ sung quy định người thành lập doanh nghiệp phải nộp lệ phí ĐKDN tại thời điểm nộp hồ sơ ĐKDN. Lệ phí sẽ không được hoàn trả cho người thành lập doanh nghiệp ngay cả khi không được cấp Giấy chứng nhận ĐKDN.

Điều chỉnh phạm vi những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp ( Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 16 của NĐ 43/2010 về đăng ký kinh doanh )

Trong Nghị định số 88/2006/NĐ-CP trước đây quy định không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Do vậy, hiện nay tình trạng nhiều doanh nghiệp ở các tỉnh khác nhau lại có tên trùng nhau khá phổ biến.

Theo chỉ đạo của Chính phủ về việc phải quy định việc chống trùng và nhầm lẫn tên doanh nghiệp, Nghị định quy định cụ thể là không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký trên phạm vi toàn quốc.

Tuy nhiên, Nghị định mới cũng quy định: Các doanh nghiệp đã đăng ký tên doanh nghiệp phù hợp với quy định tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP nhưng có tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp khác không bị buộc phải đăng ký đổi tên.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố trên Cổng thông tin doanh nghiệp Việt Nam danh sách các doanh nghiệp có tên trùng và gây nhầm lẫn. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có tên trùng và tên gây nhầm lẫn tự thương lượng với nhau để đăng ký đổi tên doanh nghiệp.

Một bộ hồ sơ duy nhất, một đầu mối giải quyết

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật giao thông trực tuyến qua tổng đài điện thoại

Theo dự thảo Nghị định, một bộ hồ sơ ĐKDN duy nhất gồm một Giấy đề nghị ĐKDN chứa đựng các thông tin ĐKKD, đăng ký thuế; một Giấy chứng nhận ĐKDN; một đầu mối tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả là cơ quan ĐKKD thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư.

Tại 5 thành phố có số lượng đăng ký thành lập doanh nghiệp lớn là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, UBND các thành phố này sau khi thống nhất với Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, xem xét thí điểm chuyển cơ quan đăng ký kinh doanh sang hoạt động theo hình thức đơn vị sự nghiệp có thu.

CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ (biên tập)

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật nghĩa vụ quân sự miễn phí qua tổng đài điện thoại