1. Hiểu thế nào về trợ giúp xã hội

Trợ giúp xã hội, trong ngữ cảnh này, đề cập đến việc Nhà nước và cộng đồng xã hội hỗ trợ những người đang đối diện với khó khăn mà họ không thể tự mình vượt qua. Ngoài việc cung cấp lương thực và hàng hóa cần thiết từ nguồn ngân sách quốc gia, trợ giúp xã hội cũng bao gồm việc chi trả các chi phí liên quan đến việc điều trị cho những người bị thương nặng và cả việc hỗ trợ trong việc chi phí tang lễ.

Hiện nay chưa có bất kỳ văn bản pháp luật cụ thể nào đề cập rõ đến khái niệm "trợ cấp xã hội". Tuy nhiên, dựa vào các tài liệu liên quan, ta có thể hiểu rằng:

Trợ cấp xã hội, hoặc trợ giúp xã hội, là việc cung cấp tiền, tài sản, hoặc các đồ vật khác bởi Nhà nước hoặc các tổ chức phi chính phủ đến những người đang đối mặt với khó khăn, nguy cơ, hoàn cảnh kém may mắn, và người nghèo, cũng như những người đang phải đối mặt với bệnh tật nặng nề hoặc những biến cố không may xảy ra trong cuộc sống của họ. Mục tiêu của trợ cấp xã hội là giúp họ vượt qua những khó khăn này và duy trì cuộc sống ổn định, không chỉ trong tương lai mà còn trong dài hạn.

Chính sách trợ giúp xã hội hiện nay đã trải qua nhiều sự thay đổi, thích ứng với tình hình kinh tế của quốc gia và mức sống tối thiểu của người dân trong từng giai đoạn. Hệ thống trợ cấp này tuân theo các nguyên tắc quan trọng bao gồm "thời gian phản ứng nhanh", "công bằng", "minh bạch", và "công khai". Trợ cấp được xác định dựa trên mức độ khó khăn và ưu tiên gia đình và cộng đồng nơi người nhận trợ cấp sinh sống.

Nhà nước thúc đẩy và tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân để họ hỗ trợ và chăm sóc những người đang nhận trợ giúp xã hội.

Các người được hưởng trợ cấp xã hội được đánh giá từ nhiều khía cạnh, bao gồm tình hình kinh tế của họ cũng như khả năng lao động. Mức độ trợ cấp cũng không đồng đều giữa các người thuộc các nhóm khác nhau. Nguyên tắc quan trọng là đảm bảo trợ cấp dựa trên mức độ khó khăn của từng đối tượng và khả năng tài chính của ngân sách, phản ánh tốc độ tăng giá tiêu dùng và tình hình cuộc sống của người được bảo trợ xã hội.

Theo Chương III của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, các trường hợp được hỗ trợ xã hội khẩn cấp bao gồm:

- Hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian 01 tháng cho mỗi đợt hỗ trợ đối với các đối tượng thuộc hộ gia đình thiếu đói vào dịp Tết âm lịch. Hỗ trợ này được cấp không quá 3 tháng cho mỗi đợt hỗ trợ cho các đối tượng thiếu đói do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác từ nguồn lực của địa phương và nguồn dự trữ quốc gia.

- Đối tượng có hoàn cảnh khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc lý do bất khả kháng khác mà mất nhà ở và không có khả năng tự bảo đảm các nhu cầu thiết yếu sẽ được xem xét hỗ trợ từ nguồn lực huy động hoặc nguồn dự trữ quốc gia, bao gồm lều bạt, nước uống, thực phẩm, chăn màn, xoong nồi, chất đốt, xuồng máy, và một số mặt hàng thiết yếu khác để đảm bảo nhu cầu ngay tại nơi ở hiện tại.

- Người bị thương nặng do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng hoặc do các lý do bất khả kháng khác tại nơi cư trú sẽ được xem xét hỗ trợ với mức tối thiểu là 3, 6 triệu đồng.

- Hộ gia đình mất người do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng hoặc lý do bất khả kháng khác sẽ được xem xét hỗ trợ chi phí mai táng với mức tối thiểu là 18 triệu đồng.

- Hộ nghèo, hộ cận nghèo, và hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị hư hỏng nặng do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn nơi ở sẽ được xem xét hỗ trợ chi phí làm mới nhà ở với mức tối thiểu là 40 triệu đồng/hộ.

- Hộ gia đình phải di dời nhà ở khẩn cấp do nguy cơ sạt lở, lũ, lụt, thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác sẽ được xem xét hỗ trợ chi phí di dời nhà ở với mức tối thiểu là 30 triệu đồng/hộ.

- Trẻ em có cả cha và mẹ chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc lý do bất khả kháng khác mà không còn người thân thích chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ được hỗ trợ theo quy định tại khoản 2 Điều 19 của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

- Hộ gia đình mất phương tiện sản xuất chính do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc lý do bất khả kháng khác dẫn đến mất việc làm sẽ được xem xét trợ giúp tạo việc làm và phát triển sản xuất theo quy định hiện hành.

 

2. Mẫu danh sách hộ gia đình và số người trong hộ gia đình thiếu đói, nhu yếu phẩm

Quý khách có thể tải mẫu danh sách hộ gia đình và số người trong hộ gia đình thiếu đói, nhu yếu phẩm là mẫu số 05a hoặc mẫu số 05b ban hành kèm theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP tại đây.

Mẫu số 05a

UBND XÃ ĐÌNH TỔ
THÔN ĐOÀI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

 DANH SÁCH HỘ GIA ĐÌNH VÀ SỐ NGƯỜI TRONG HỘ GIA ĐÌNH THIẾU ĐÓI, NHU YẾU PHẨM

Số TT

Tên chủ hộ

Địa chỉ

Số người trong hộ (người)

1

Nguyễn Hoàng H

Thôn Đoài, Xã Đình Tổ, Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh

06 người

2

Trần Văn L

Thôn Đoài, Xã Đình Tổ, Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh

03 người

3

Vũ Ngọc S

Thôn Đoài, Xã Đình Tổ, Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh

04 người

4

Lê Trần Nhật P

Thôn Đoài, Xã Đình Tổ, Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh

06 người

5

Hoàng Việt T

Thôn Đoài, Xã Đình Tổ, Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh

05 người

 

Tổng

 

 24 người

 

 

Ngày 23 tháng 08 năm 2023
TRƯỞNG THÔN
(Ký, ghi rõ họ tên)

Mẫu 05b

UBND XÃ TRÍ QUẢ
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------


DANH SÁCH HỘ GIA ĐÌNH VÀ SỐ NGƯỜI TRONG HỘ GIA ĐÌNH THIẾU ĐÓI, NHU YẾU PHẨM

Số TT

Thôn xóm

Số hộ (hộ)

Số người (người)

Ghi chú

1

Thôn Đoài

15 hộ

25 người

 

2

Thôn Đông

10 hộ

23 người

 

3

Thôn Tây

5 hộ

7 người

 

4

Thôn Nam

7 hộ

18 người

 

5

Thôn Bắc

6 hộ

15 người

 

 

Tổng

43 hộ

88 người

 

 

 

Ngày 23 tháng 08 năm 2023
CHỦ TỊCH
(Ký, đóng dấu)

 

3. Đối tượng được hưởng chế độ trợ giúp xã hội

Dựa trên Điều 5 của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP về các đối tượng đủ điều kiện để hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, danh sách bao gồm:

Trẻ em dưới 16 tuổi ở trong các tình huống sau đây:

Bị bỏ rơi và không có người nhận làm con nuôi.

Mồ côi cả cha và mẹ.

Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật.

Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc nhà xã hội.

Mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cả cha và mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật.

Cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc nhà xã hội.

Cả cha và mẹ đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc nhà xã hội.

Cha hoặc mẹ bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cha hoặc mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Người thuộc điều kiện trên mục 1 trên đủ 16 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng hoặc đại học văn bằng thứ nhất, tiếp tục được hưởng trợ cấp xã hội cho đến khi kết thúc học, tối đa không quá 22 tuổi.

Người thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo chưa kết hôn, hoặc đã kết hôn nhưng chồng hoặc vợ đã chết hoặc bị mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi hoặc từ 16 đến 22 tuổi và người con đó đang đi học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học.

Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

Người cao tuổi thuộc các trường hợp sau đây:

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người phụ dưỡng hoặc có người phụ dưỡng nhưng đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng.

Người cao tuổi từ 75 đến 80 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo.

Người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng, hoặc trợ cấp xã hội hàng tháng.

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có điều kiện sống ở cộng đồng, nhưng đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội, nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

Người khuyết tật nặng hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.

Trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo, không thuộc đối tượng quy định tại các mục 1, 3, và 6 ở trên, đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

Người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo và không có nguồn thu nhập ổn định hàng tháng như tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, hoặc trợ cấp xã hội hàng tháng.

Quý khách có thể tham khảo thêm bài viết liên quan cùng chủ đề như: Chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Mọi vướng mắc liên quan đến các quy định pháp luật vui lòng trao đổi trực tiếp với Công ty Luật Minh Khuê thông qua số: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng./.