Khái niệm Danh sách lưu ý (watch list)
Danh sách các ngân hàng được những cơ quan giám định ngân hàng xem như có vấn đề về lợi nhuận hoặc vốn suy yếu. Đây thường là những ngân hàng có xếp hạng cao hơn 3 trên Thang đo xếp hạng CAMELS, được những cơ quan điều tiết ngân hàng liên bang sử dụng để xác định các ngân hàng cần có sự giám sát chặt chẽ hơn. (Thang xếp hạng CAMELS là một số điểm tổng hợp, dựa trên sáu tiêu chuẩn: vốn, Tài sản, Quản lý, Lợi nhuận, Tính Thanh khoản và Độ nhạy với rủi ro của thị trường), xếp hạng CAMELS từ 4 đến 5 thể hiện mức độ yếu kém về tài chính trong bảng cân đối kế toán, như tỉ lệ các khoản cho vay không hiệu quả trên tổng tài sản cao hơn các ngân hàng có cùng quy mô. Nếu không được điều chỉnh, những vấn đề này có thể làm phương hại đến khả năng tồn tại trong tương lai của ngân hàng.
Hệ thống xếp hạng CAMELS
Khái niệm
Hệ thống xếp hạng CAMELS trong tiếng Anh là CAMELS Rating System.
Hệ thống xếp hạng CAMELS là một hệ thống xếp hạng quốc tế được công nhận mà các cơ quan giám sát ngân hàng sử dụng để xếp hạng các định chế tài chính dựa trên 6 yếu tố thể hiện bằng từ viết tắt của nó. Các cơ quan giám sát tính điểm cho mỗi ngân hàng theo tham điểm. Xếp hạng 1 là cao nhất, và xếp hạng 5 là thấp nhất cho mỗi yếu tố.
Số đo về khả năng thanh toán tương đối của ngân hàng. Xếp hạng camels - thuật ngữ đại diện cho tình hình vốn (capital), tài sản (assets), quản trị (management), thu nhập (earnings), khả năng thanh khoản (liquidity) và độ nhạy (sensitivity) trước rủi ro thị trường - được tính trên thang điểm 1-5, được các cơ quan giám sát ngân hàng sử dụng để đánh giá tình hình của ngân hàng. Xếp hạng cấp 1 được dành cho các ngân hàng sử dụng để đánh giá tình hình của ngân hàng. Xếp hạng cáp 1 được dành cho các ngân hàng có xếp hạng thành quả mạnh nhất; các ngân hàng được xếp hạng camels 4 hay 5 được liệt vào danh sách ngân hàng cần có sự chú ý giám sát. Các xếp hạng camels được trình cho ban quản trị ngân hàng, mặc dù không được công bố rộng rãi.
Các yếu tố của Hệ thống xếp hạng CAMELS
Các ngân hàng được chấm điểm trung bình thấp hơn 2 là các định chế chất lượng cao. Các ngân hàng có điểm cao hơn 3 là các định chế trung bình. Các chữ cái trong CAMELS là chữ cái viết tắt của những yếu tố sau mà người đánh giá sử dụng để xếp hạng các tổ chức ngân hàng:
Capital Adequacy (An toàn vốn): Người đánh giá sẽ đánh giá mức độ an toàn vốn của một định chế thông qua phân tích xu hướng vốn. Người đánh giá đồng thời kiểm tra xem định chế đó có tuân thủ những qui định liên quan đến rủi ro hay không. Để có được xếp hạng an toàn vốn cao, định chế đó phải tuân thủ các qui tắc và thông lệ về lãi và cổ tức. Các yếu tố khác khi xếp hạng và đánh giá mức độ an toàn vốn của một định chế là kế hoạch tăng trưởng, môi trường kinh tế, khả năng quản lí rủi ro, và tỉ trọng tập trung cho vay và đầu tư.
Asset Quality (Chất lượng tài sản): Chất lượng tài sản bao gồm chất lượng các khoản vay, phản ánh thu nhập của định chế. Đánh giá chất lượng tài sản bao gồm xếp hạng các yếu tố rủi ro đầu tư mà công ti có thể gặp phải và cân bằng được những yếu tố đó đối với thu nhập của công ti. Nó cũng cho thấy sự ổn định của công ti khi đối mặt với nhưng rủi ro cụ thể.
Người đánh giá cũng đồng thời kiểm tra xem các công ti bị ảnh hưởng như thế nào bởi giá trị thị trường của các khoản đầu tư khi so sánh với giá trị sổ sách đầu tư của công ti. Cuối cùng, chất lượng tài sản được phản ánh bởi hiệu quả của chính sách và thực tiễn đầu tư của định chế đó.
Management (Quản lí): Đánh giá quản lí quyết định liệu một định chế có khả năng phản ứng hợp lí đối với các căng thẳng tài chính hay không. Thành phần xếp hạng này được phản ánh bởi khả năng của chính sách quản lí trong việc phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro của các hoạt động thường ngày của định chế tài chính.
Nó bao gồm khả năng của chính sách quản lí trong việc đảm bảo các hoạt động của định chế tài chính là an toàn và tuân thủ với những qui định nội bộ và bên ngoài.
Earnings (Thu nhập): Khả năng tạo ra lợi nhuận của một định chế tài chính để có thể mở rộng, duy trì khả năng cạnh tranh và tăng vốn là một yếu tố quan trọng để đánh giá khả năng tồn tại lâu dài của định chế này. Người đánh giá xác định điều này thông qua việc đánh giá mức độ tăng trưởng, sự ổn định, định giá, biên độ lãi ròng, mức giá trị ròng và chất lượng tài sản hiện tại của công ti.
Liquidity (Thanh khoản): Để đánh giá tính thanh khoản của công ti, người đánh giá sẽ xem xét độ nhạy cảm của rủi ro lãi suất, tính sẵn có của tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt, tính phụ thuộc vào các nguồn tài chính biến động ngắn hạn và năng lực ALM (Quản lí tài sản nợ & có).
Sensitivity (Độ nhạy cảm): Độ nhạy cảm bao gồm mức độ rủi ro cụ thể có thể ảnh hưởng tới định chế tài chính. Người đánh giá sẽ đánh giá mức độ nhạy cảm của một định chế đối với rủi ro thị trường bằng cách giám sát việc quản lí mức độ tập trung tín dụng. Bằng cách đó, người đánh giá có thể nhìn thấy được việc cho vay tập trung đối với một ngành cụ thể có thể ảnh hưởng tới một định chế như thế nào.
Những khoản vay này bao gồm cho vay nông nghiệp, cho vay y tế, cho vay thẻ tín dụng và cho vay ngành năng lượng. Tỉ trọng cho vay đối với giao dịch ngoại hối, hàng hoá, vốn, và các sản phẩm phái sinh cũng được đưa vào đánh giá mức độ nhạy cảm của một công ti đối với rủi ro thị trường.
Một số lưu ý về Danh sách lưu ý
Một ngân hàng được đưa vào danh sách lưu ý được xem là ngân hàng có vấn đề, và được các cơ quan giám sát ngân hàng kiểm tra thường xuyên hơn các ngân hàng khác. (Ngược lại, một ngân hàng có xếp hạng CAMELS 1 là ngân hàng có doanh thu tốt và tài sản không hiệu quả thì ít.) Trong trường hợp nào thì xếp hạng CAMELS cũng không bao giờ được công khai.
Danh sách các ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi cho thị trường thứ cấp có bảng cân đối kế toán yếu kém tiềm năng, được tổng hợp bởi các cơ quan xếp hạng tín dụng như s&p.
Danh sách lưu ý có thể là
Danh sách các quốc gia có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán đối với nợ nước ngoài, được theo dõi chặt chẽ bởi các cơ quan ngân hàng liên bang về những thay đổi trong tình trạng tài chính. Danh sách này, là bảng xếp hạng rủi ro quốc gia liên quan đến các khoản cho vay đối với các quốc gia đang phát triển, được tổng hợp bởi ủy ban đánh giá rủi ro quốc gia Liên Cơ quan, với các thành viên đến từ ủy ban Dự trữ Liên bang, Tổng kiểm toán Tiền tệ và Công tyBảo hiểm Tiền gửi Liên bang.
Danh mục các khoản cho vay hoặc tín dụng rủi ro được tổng hợp bởi một ngân hàng để giám sát nội bộ. Ví dụ, lợi về đáo hạn của các khoản cho vay kỳ hạn có ngày đáo hạn trong 30 ngày kế tiếp, và các khoản cho vay thương mại với quyền lợi bảo đảm đầy đủ hết hạn trong sáu tháng kế tiếp, trừ khi được gia hạn.
Các hệ thống đánh giá ngân hàng trên thế giới
Thời gian qua, nhiều quốc gia đã áp dụng các phương pháp mới và phát triển các hệ thống phù hợp cho giám sát ngân hàng nhằm trang bị tốt hơn để đối mặt với những thách thức mới được tạo ra bởi đổi mới tài chính và toàn cầu hóa. Các hệ thống mới này tìm cách đánh giá và theo dõi các thay đổi trong điều kiện tài chính, mức độ rủi ro của ngân hàng và đưa ra những cảnh báo kịp thời.
Hệ thống xếp hạng PATROL
Ngành ngân hàng Ý đã giới thiệu hệ thống xếp hạng PATROL vào năm 1993 như là một công cụ giám sát có hệ thống về sức khỏe tài chính của từng ngân hàng. Các đầu vào chính cho phân tích của PATROL bao gồm thông tin từ dữ liệu báo cáo định kỳ của các ngân hàng. 5 thành phần của PATROL là an toàn vốn, lợi nhuận, chất lượng tín dụng, tính tổ chức và thanh khoản. Mỗi thành phần của PATROL được đánh giá theo thang điểm từ 1 (tốt nhất) đến 5 (kém nhất) dựa trên các tiêu chí. 5 xếp hạng thành phần riêng lẻ được chuyển đổi thành xếp hạng tổng hợp, cũng theo thang điểm từ 1 (tốt nhất) đến 5 (kém nhất), bao gồm tất cả các thông tin có sẵn cho nhà phân tích.
Hệ thống xếp hạng ORAP
Ủy ban Ngân hàng Pháp đã giới thiệu hệ thống ORAP vào năm 1997 như là một hệ thống phân tích đa nhân tố, đặt mục tiêu phát hiện các điểm yếu tiềm ẩn trong các ngân hàng bằng cách kiểm tra tất cả các thành phần rủi ro liên quan đến hoạt động và môi trườn, thông qua sử dụng thông tin định lượng và định tính. Xếp hạng ORAP sử dụng các nguồn thông tin bên trong và bên ngoài khác nhau. Chúng bao gồm các cơ sở dữ liệu khác nhau của cơ quan giám sát, đặc biệt là dữ liệu do chính các ngân hàng cung cấp và dữ liệu giám sát tại chỗ.
Hệ thống xếp hạng ORAP được chuẩn hóa với xếp hạng cụ thể trên 14 thành phần. Các thành phần liên quan đến các yếu tố thận trọng (tiềm lực vốn, thanh khoản, danh mục tập trung và an toàn vốn), hoạt động ngoại bảng (chất lượng tài sản, nợ xấu và dự phòng cho các khoản nợ), rủi ro thị trường, thu nhập (thu nhập hoạt động, thu nhập không định kỳ và lợi nhuận trên tài sản) và tiêu chí định tính (cổ đông, quản lý và kiểm soát nội bộ). Mỗi thành phần được đánh giá theo thang điểm từ 1 (tốt nhất) đến 5 (kém nhất). Xếp hạng thành phần được chuyển đổi thành xếp hạng tổng hợp, có giá trị giữa 1 (tốt nhất) và 5 (kém nhất).
Hệ thống xếp hạng CAMELS
Mô hình CAMELS được phát triển vào năm 1979, được Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ khuyến nghị. Mô hình này đã được sử dụng trong các tổ chức tài chính Mỹ và sau đó trên toàn thế giới. CAMELS hiện tại bao gồm 6 nhân tố là mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, hiệu quả quản lý, thu nhập, tính thanh khoản và mức độ nhạy cảm với thị trường(1). Khung CAMELS nhấn mạnh vào các thông số của hệ thống ngân hàng bằng cách thông qua báo cáo kết quả kinh doanh để đánh giá hiệu quả hoạt động và bảng cân đối kế toán để đánh giá tình hình tài chính của các ngân hàng. Các thang điểm đánh giá cũng được vận hành tương tự như các hệ thống trình bày trước, theo thang điểm từ 1 (tốt nhất) đến 5 (kém nhất). Trong đó chi tiết về các thành phần đánh giá theo mô hình này như sau:
+ An toàn vốn (Capital)
Cơ quan giám sát đánh giá mức độ an toàn vốn của các ngân hàng thông qua phân tích xu hướng vốn. Để có được xếp hạng an toàn vốn cao, các ngân hàng cũng phải tuân thủ các quy tắc và thông lệ về lãi suất và cổ tức. Các yếu tố khác liên quan đến xếp hạng và đánh giá mức độ an toàn vốn của một tổ chức là kế hoạch tăng trưởng, môi trường kinh doanh, khả năng kiểm soát rủi ro, cho vay và tập trung đầu tư.
+ Chất lượng tài sản (Asset)
Chất lượng tài sản bao gồm chất lượng khoản vay của ngân hàng. Đánh giá chất lượng tài sản liên quan đến các yếu tố rủi ro đầu tư mà ngân hàng có thể phải đối mặt và so sánh chúng với thu nhập vốn của công ty. Cơ quan giám sát cũng kiểm tra xem các ngân hàng bị ảnh hưởng như thế nào bởi giá trị thị trường của các khoản đầu tư khi được nhân đôi với giá trị sổ sách. Cuối cùng, chất lượng tài sản được phản ánh bởi hiệu quả của các chính sách và thực tiễn đầu tư của một ngân hàng.
+ Hiệu quả quản lý (Management)
Việc đánh giá khả năng quản lý xác định liệu một ngân hàng có thể phản ứng đúng trước căng thẳng tài chính. Xếp hạng thành phần này được phản ánh bởi khả năng của ban quản lý để đo lường và kiểm soát rủi ro trong các hoạt động hàng ngày của ngân hàng. Nó bao gồm khả năng quản lý để đảm bảo hoạt động an toàn của ngân hàng khi họ tuân thủ các quy định nội bộ và bên ngoài.
+ Thu nhập (Earnings)
Khả năng của một ngân hàng tạo ra lợi nhuận phù hợp để có thể mở rộng, duy trì khả năng cạnh tranh và gia tăng vốn là một yếu tố quan trọng nhằm đánh giá khả năng tồn tại liên tục của ngân hàng. Cơ quan giám sát xác định điều này bằng cách đánh giá sự tăng trưởng, sự ổn định, tỷ lệ lãi ròng và chất lượng tài sản hiện có của công ty.
+ Thanh khoản (Liquidity)
Để đánh giá tính thanh khoản của ngân hàng, cơ quan giám sát xem xét độ nhạy cảm rủi ro lãi suất, tính sẵn có của tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt, phụ thuộc vào nguồn tài chính ngắn hạn, cấu trúc tài sản nợ và tài sản có.
+ Nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensivity)
Cơ quan giám sát đánh giá mức độ nhạy cảm của một ngân hàng đối với rủi ro thị trường bằng cách giám sát việc quản lý danh mục tín dụng. Theo cách này, họ có thể thấy việc cho vay đối với các ngành cụ thể ảnh hưởng đến một ngân hàng như thế nào.