1. Hòa giải trong tố tụng dân sự là gì?

Hòa giải trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành theo pháp luật tố tụng dân sự nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận, thương lượng với nhau về giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là các bên tranh chấp thông qua vai trò trung gian của Tòa án.

2. Đặc điểm của hòa giải trong tố tụng dân sự

- Hòa giải là hoạt động do Tòa án tiến hành

Trong quá trình hòa giải các vụ án dân sự nói chung, Tòa án được pháp luật quy định giữ vai trò trung gian tổ chức hòa giải giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án. Trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nói chung không chỉ là một nguyên tắc, thủ tục tố tục đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự mà còn đảm bảo tính pháp lý của hòa giải.

So với hòa giải do tổ hòa giải ở cơ sở, hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành... thì hòa giải do Tòa án tiến hành có những sự khác biệt như sau:

Hòa giải do Tòa án tiến hành được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Trong khi đó, hòa giải do tổ hòa giải ở cơ sở tiến hành được điều chỉnh bởi Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành; hòa giải do hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành thì được điều chỉnh bởi Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Hòa giải tại Tòa án do thẩm phán được phân công giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc hội đồng xét xử sơ thẩm (tại Tòa án nhân dân cấp huyện) và phúc thẩm (tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh) tiến hành. Còn hoạt động hòa giải ở cơ sở được thực hiện bởi các hòa giải viên thuộc các tổ hòa giải. Đối với hoạt động hòa giải trong giải quyết các tranh chấp đất đai do hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai thực hiện.

- Kết quả hòa giải thành là sự thỏa thuận của các đương sự

Việc thỏa thuận của đương sự chỉ đạt được trên cơ sở thương lượng một cách tự nguyện, trung thực, hợp tác và có thiện chí; phù hợp lợi ích của các bên nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Sự thỏa thuận của đương sự là đặc trưng cơ bản của hòa giải, thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết các tranh chấp, đồng thời cũng là điểm khác biệt giữa hòa giải và xét xử.

- Hòa giải được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định

Hòa giải các vụ án dân sự nói chung phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành. Việc quy định trình tự, thủ tục hòa giải các vụ án dân sự nói chung đảm bảo tính khách quan, công bằng trong hoạt động hòa giải của Tòa án, đảm bảo sự bình đẳng của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục hòa giải là cơ sở để tiến hành hòa giải các vụ án dân sự và bắt buộc Tòa án, các đương sự tham gia hòa giải phải tuân theo quy định đó.

Hoạt động giải quyết vụ án dân sự nói chung của Tòa án phải tuân thủ theo nguyên tắc do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

3. Các vụ án không hòa giải được

Về nguyên tắc, “hòa giải tiến hành đối với việc giải quyết hầu hết các vụ án dân sự”. Tuy nhiên, như đã nêu ở trên, có những trường hợp vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được vì nhiều lý do khác nhau. Theo quy định tại Điều 207 của BLTTDS 2015, các trường hợp không tiến hành hòa giải được bao gồm:

Thứ nhất, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt:

“Theo nội dung điều luật, chủ thể được xác định là bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được”. Do vậy, nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án “triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được… và ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung”. Trường hợp này thường xảy ra khi bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không mong muốn tiến hành hòa giải và đã cố tình gây khó khăn, cản trở hoặc muốn kéo dài thời gian giải quyết nhằm tạo sự bất lợi cho phía nguyên đơn bằng cách không thông báo ý định đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và cố ý không có mặt tại phiên hòa giải. Mặc dù vậy, sự không có mặt của bị đơn hay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên hòa giải mà đã được Tòa án thông báo triệu tập hợp lệ đến hai lần cũng là cơ sở của việc vụ án dân sự đó không tiến hành hòa giải được và Tòa án phải ra quyết định để đưa vụ án ra xét xử. Ngoài ra, cần lưu ý, trong trường hợp “tại phiên tòa bị đơn có yêu câu Tòa án hoãn phiên tòa để tiến hành hòa giải thì Tòa án không chấp nhận nhưng cần tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án”.

Thứ hai, đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng:

“Lý do chính đáng được xác định là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được (xác định tương tự theo điểm c, khoản 3, Điều 14, Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP); các sự kiện này xảy ra không phụ thuộc và chịu sự chi phối của con người. VD: Bão lụt, thiên tai, sạt lở…”. Hoặc có thể quan niệm, lý do chính đáng là các sự kiện xảy ra rất bất ngờ, khách quan đến nỗi bản thân đương sự cũng không dự đoán trước được. Nói cách khác, đấy là những tình huống phát sinh ngẫu nhiên và không thuộc khả năng quyết định hoặc có thể giải quyết của đương sự. Do đó, không ít trường hợp mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia hòa giải và đương sự cũng có ý thức tham gia phiên hòa giải thế nhưng chỉ vì sự kiện xảy ra quá bất ngờ nên đã làm cho đương sự không thể tham gia phiên hòa giải được. Vì vậy, đây cũng là một lý do dẫn đến việc vụ án dân sự không thể tiến hành hòa giải được và Tòa án sẽ phải ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Thứ ba, đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự:

Trên thực tế, các vụ án hôn nhân và gia đình đều diễn ra khá phức tạp, bởi lẽ, Tòa án thường phải giải quyết khá nhiều quan hệ pháp luật như xem xét, giải quyết việc ly hôn, vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng và ai là người có trách nhiệm nuôi dưỡng con cái. Mặt khác, thông thường đối với vụ án ly hôn, ban đầu Tòa án cũng mong muốn có thể hàn gắn quan hệ giữa hai vợ chồng. Vì nếu như hai vợ chồng có thể trở lại với nhau thì đồng nghĩa các quan hệ pháp luật trên sẽ không cần phải giải quyết và vấn đề tình cảm của con cái hay các mối quan hệ giữa các bên sau này vẫn có thể được giữ gìn tốt hơn. Do vậy, đối với các vụ án ly hôn, việc tiến hành thủ tục hòa giải luôn được Tòa án đặc biệt coi trọng. Tuy nhiên, để có thể tự mình tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự trong vụ án ly hôn, đòi hỏi chủ thể tham gia là cá nhân phải có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Trong đó, nếu đương sự mất năng lực hành vi dân sự thì đương nhiên đương sự cũng sẽ không thực hiện được năng lực hành vi tố tụng dân sự. Hơn nữa, đối với các vụ án ly hôn thì người đại diện hợp pháp của các bên đương sự cũng không có quyền được thay mặt đương sự đứng ra hòa giải với bên kia. Bởi lẽ, việc quyết định chung sống giữa vợ chồng hoàn toàn phải xuất phát từ quyền bình đẳng tự nguyện và tự do quyết định của vợ, chồng. Sở dĩ như vậy là vì “quan hệ hôn nhân là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao hay ủy quyền cho cá nhân khác đại diện tham gia”. Do vậy, trong trường hợp vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự thì Tòa án cũng không thể tiến hành hòa giải được. Bởi “người mất năng lực hành vi dân sự không thể hiện được ý chí, suy nghĩ của bản thân nên việc tổ chức phiên hòa giải cũng không có giá trị và không đạt được mục đích của hòa giải”.

Thứ tư, một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải:

Về nguyên tắc, “Tòa án phải hòa giải vụ án dân sự trước khi đưa vụ án ra xét xử sở thẩm”. Mặc dù vậy, việc một trong các bên đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải cũng là cơ sở cho việc Tòa án không tiến hành thủ tục hòa giải. Sở dĩ BLTTDS 2015 cho phép đương sự có quyền đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải “xuất phát từ đặc trưng của tố tụng dân sự là “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” (Điều 5 BLTTDS)”. Nói cách khác, quy định này được hình thành dựa trên quyền tự quyết định của các đương sự và đây cũng là quy định mới của BLTTDS 2015. Bởi lẽ, trước đây, BLTTDS 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 đều không quy định vấn đề này. Thế nhưng đây lại là quy định cần thiết và quan trọng bởi đương sự là những người trực tiếp phải hòa giải với nhau và có lẽ mong muốn của họ là nhanh chóng giải quyết các quan hệ pháp luật tranh chấp. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, có thể do các đương sự không còn hy vọng vào việc có thể giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải thế nên việc tiến hành hòa giải với các đương sự trở nên không cần thiết và lại mất thêm thời gian chờ đợi. Do vậy, các đương sự có thể chỉ mong muốn Tòa án nhanh chóng tiến hành thủ tục xét xử. Chính vì thế, có thể khẳng định, việc ghi nhận quyền hạn này là cần thiết và càng góp phần đề cao quyền tự do định đoạt của các bên đương sự khi tham gia tố tụng dân sự.

Ngoài ra, cần lưu ý, “tất cả những trường hợp không hòa giải được, Tòa án phải lập biên bản không hòa giải được, nêu rõ lý do để lưu vào hồ sơ vụ án, sau đó đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa” và “trong trường hợp các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hoặc rút đơn kiện mà qua việc kiểm tra thấy hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với những quy định của pháp luật, Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.

Tóm lại, có thể thấy rằng, hầu hết các nguyên nhân dẫn đến việc Tòa án không tiến hành hòa giải được đều xuất phát từ lý do chủ quan của đương sự. Bởi lẽ, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự do định đoạt của các đương sự thế nên, việc Tòa án tiến hành hòa giải được hay không đều phải dựa trên ý chí của các đương sự. Hay nói cách khác, hòa giải là nguyên tắc bắt buộc của tố tụng dân sự nhưng việc hòa giải có tiến hành được hay không lại phải phụ thuộc rất lớn vào bản thân các đương sự.

Để việc hòa giải trong thực tiễn thực sự có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đặt ra thì việc nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đặc biệt trong giai đoạn BLTTDS 2015 có hiệu lực thi hành với nhiều nội dung mới là điều rất quan trọng.

4. Xác định thời điểm mở phiên hòa giải

Mở phiên hòa giải là trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm giúp đương sự có thể thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết quan hệ tranh chấp. Theo quy định của BLTTDS 2015, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm tổ chức phiên hòa giải theo quy định trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn; vụ án không được tiến hành hòa giải (Điều 206 BLTTDS) và những vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207 BLTTDS). Pháp luật tố tụng không quy định thời điểm mở phiên hòa giải cụ thể là bao nhiêu ngày kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp khi xét thấy việc xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ đã đầy đủ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ; Thẩm phán sẽ linh hoạt ấn định thời điểm mở phiên hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử sao cho phù hợp.

Trường hợp vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài thì Phiên họp hòa giải phải được mở sớm nhất là 6 tháng và chậm nhất là 8 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án. Ngày mở lại phiên họp hòa giải (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên họp hòa giải chậm nhất là 1 tháng (Điều 476 BLTTDS 2015). Liên hệ các quy định về thời hạn giải quyết vụ án trong luật tố tụng hành chính, thời hạn giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục chung thì đây là một điểm nhấn, một bước cải tiến đột phá trong tư duy lập pháp, bởi thông thường để tránh tình trạng thiếu trách nhiệm, kéo dài thời gian giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, các nhà làm luật phải quy định thời hạn tối đa của mỗi một quá trình. Do đặc thù của các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài về vấn đề ủy thác tư pháp tống đạt các giấy tờ, tài liệu, quyết định của Tòa án ra nước ngoài nên BLTTDS 2015 đã quy định thời hạn mở phiên họp hòa giải trong khoảng sớm nhất là 6 tháng, chậm nhất là 8 tháng; thời hạn mở phiên tòa sớm nhất là 9 tháng, chậm nhất là 12 tháng.

Bên cạnh quy định bắt buộc phải mở phiên hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử; pháp luật tố tụng cũng quy định việc hòa giải có thể được thực hiện tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm thể hiện bằng việc chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thể thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Tùy mỗi giai đoạn, việc hòa giải, thỏa thuận giữa các đương sự được ghi nhận dưới hình thức và giá trị pháp lý khác nhau…

5. Nguyên tắc tiến hành hòa giải

Theo quy định tại Điều 205 BLTTDS 2015 thì việc hòa giải phải được tiến hành theo các nguyên tắc: “Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình”.

Nguyên tắc này xuất phát từ đặc trưng của tố tụng dân sự là “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” (Điều 5 BLTTDS). Theo đó, pháp luật thừa nhận và đảm bảo cho các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự được toàn quyền thể hiện ý chí, lựa chọn, quyết định thực hiện hay không thực hiện hành vi tố tụng nhất định. Vụ án dân sự chỉ được phát sinh dựa trên yêu cầu khởi kiện của chủ thể khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, Tòa án không can thiệp, giải quyết các quan hệ dân sự khi không có đơn khởi kiện. Quá trình giải quyết vụ án trong mọi giai đoạn tố tụng, đương sự có toàn quyền thể hiện ý chí của mình bằng việc yêu cầu, thỏa thuận với nhau về đường lối giải quyết tranh chấp. Tòa án phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và việc thể hiện ý chí này chỉ được Tòa án chấp nhận trong trường hợp hoàn toàn tự nguyện không bị đe dọa hay ép buộc.

Với nguyên tắc: “Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”, là nội dung thỏa thuận của các đương sự chỉ được Tòa án chấp nhận khi không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định; đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Mọi thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội đều không được Tòa án công nhận.