Hiện nay, do sự phát triển của kinh tế - xã hội, hạ tầng đô thị. Mật độ xây dựng nhà ở hiện nay ngày càng lớn. Việc xây dựng, sửa chữa nhà ở riêng lẻ trong khu dân cư khá nguy hiểm nếu như không đảm bảo việc an toàn kỹ thuật trong xây dựng. Thời gian gần đây đã xảy ra nhiều vụ việc liên qua đến xây dựng nhà ở không đảm bảo an toàn gây ra thiệt hại như làm nứt tường, sụt lún, nghiêng, đổ hoặc sập các công trình nhà ở lân cận tuy chưa ghi nhận thiệt hại về người nhưng điều này đã tạo nên thiệt hại nghiêm trọng về tài sản và nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng con người là rất lớn. Thực trạng đó, đòi hỏi cần phải có những quy định cụ thể về an toàn xây dựng nhà ở riêng lẻ cũng như yêu cầu chủ đầu tư xây dựng phải chịu trách nhiệm về an toàn cho các công trình khác trong cùng khu vực. 

Hiện nay, các quy định về kỹ thuật trong hoạt động xây dựng phải tuân thủ Luật Xây dựng năm 2014 (Luật xây dựng được sửa đổi, bổ sung năm 2020), Nghị định 06/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. 

Nếu trong trường hợp công trình xây dựng xảy ra sự cố gây thiệt hại đến các công trình xung quanh thì việc bồi thường thiệt hại sẽ phải tuân thủ quy đinh trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơn về quản lý xây dựng công trình nhà ở riêng lẻ và vấn đề về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp nhà ở gây ra thiệt hại cho đối tượng khác. 

 

1. Quy định về nội dung quản lý xây dựng nhà ở riêng lẻ

Có thể hiểu an toàn xây dựng có thể hiểu đơn giản là các giải pháp phòng, chống nguy hiểm có thể gây hại đến sức khỏe, tính mạng người khi tham gia thi công các công trình. Việc quản lý xây dựng nhà ở riêng lẻ được thực hiện trên nguyên tắc đảm bảo an toàn cho con người, tài sản, thiết bị, công trình, các công trình lân cận và môi trường xuang quanh. 

Căn cứ quy định tại Điều 9 của Nghị định số 06/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng, chủ đầu tư xây dựng nhà ở riêng lẻ tổ chức thi công, xây dựng, giám sát thi công xây dựng và chịu trách nhiệm về an toàn trong thi công xây dựng công trình. Bên cạnh đó, pháp luật còn khuyến khích chủ đầu tư xây dựng nhà ở riêng lẻ tổ chức giám sát, thi công xây dựng, lập và lưu trữ hồ sơ nhà ở riêng lẻ theo quy định.

 

1.1. Nội dung quản lý, giám sát công trình xây dựng nhà ở riêng lẻ

Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 9 Nghị định trên nội dung giám sát công trình xây dựng nhà ở riêng lẻ bao gồm:

Thứ nhất: Nội dung liên quan đến biện pháp thi công, biện pháp đảm bảo an toàn đối với nhà ở và các công trình liền kề, lân cận;

Thứ hai: Chất lượng vật liệu, cấu kiện xây dựng, thiết bị trước khi đưa vào thi công xây dựng;

Thứ ba: Hệ thống giàn giáo, kết cấu chống đỡ tạm và các máy móc, thiết bị phục vụ thi công;

Thứ tư: Giám sát nội dung liên quan đến các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi trường trong quá trình thi công. 

 

1.2. Trách nhiệm của chủ đầu tư khi phát hiện công trình không còn đảm bảo an toàn

Theo quy định tại Điều 115 Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi bổ sung năm 2020:

Đối với nhà thầu khi nhận thấy yếu tố mất an toàn của công trình có trách nhiệm xác định vùng nguy hiểm, đảm bảo an toàn cho con người, công trình xây dựng, tài sản, thiết bị, phương tiện ở khu vực nguy hiểm trong quá trình thi công xây dựng công trình. Bên cạnh đó, nhà thầu thi công sẽ phải thông báo cho chủ đầu tư, rà soát, thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn.

Đối với chủ đầu tư xây dựng công trình khi biết được vấn đề về mất an toàn công trình xây dựng phải đình chỉ thi công, phối hợp với nhà thầu xử lý, khắc phục khi xảy ra sự cố. Bên cạnh đó, chủ đầu tư có trách nhiệm phải thông báo cho các cơ quan chức năng về các sự cố, tai nạn xảy ra khi xây dựng công trình.

Như vậy, người chủ đầu tư, chủ sở hữu của tài sản có các quyền về sử dụng, định đoạt đối với tài sản đó. Tuy nhiên, trong quá trình đó cần phải tôn trọng quy định tại Điều 174 Bộ luật Dân sự năm 2015 về tuân thủ quy tắc xây dựng, đảm bảo an toàn theo quy định của Luật Xây dựng và quan trọng nhất là việc không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề xung quanh.

 

3. Trách nhiệm bồi thường khi xây dựng làm thiệt hại đến các công trình lân cận

Như đã, phân tích ở trên, chủ đầu tư công trình và nhà thầu thi công công trình đều là những đối tượng phải chịu trách nhiệm về an toàn thi xây dựng. Nhưng trong quá trình xây dựng sẽ có nhiều tủi ro xảy ra, nếu xây dựng các công trình nhà ở riêng lẻ mà làm sụt, lún, nứt tường hoặc đổ, sập công trình bên cạnh việc bồi thường sẽ căn cứ vào mức độ thiệt hại gây ra. Trước hết, cần xác định yếu tố về nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, nguyên nhân này xuất phát từ đâu? Ai có lỗi chính trong vấn đề gây ra thiệt hại như vậy?

Theo quy định tại Điều 605 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Đối với chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác. Đối với người thi công nếu có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra thiệt hại thì phải liên đới bồi thường. 

Như vậy, chế độ chịu trách nhiệm đối với việc gây ra thiệt hại cho những công trình xây dựng lân cận thì trách nhiệm trước tiên sẽ thuộc về phía chủ đầu tư. Trách nhiệm của phía người thi công công trình chỉ đặt ra khi có yếu tố lỗi của họ trong việc gây ra thiệt hại này và khi đó họ phải liên đới chịu trách nhiệm cùng với chủ đầu tư của công trình để bồi thường cho bên bị thiệt hại.

 

4. Phải làm gì khi xây dựng mà gây ra thiệt hại cho công trình bên cạnh?

Khi có thiệt hại xảy ra, vấn đề bồi thường được đặt ra theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Những quan hệ về dân sự mà không có yếu tố vi phạm pháp luật thì pháp luật dân sự khuyến khích các bên có sự tự thảo thuận với nhau để thống nhất được các quan điểm về mức bồi thường, hình thức bồi thường. 

Trong trường hợp bên gây ra thiệt hại vi phạm những quy định về đảm bảo an toàn kỹ thuật công trình xây dựng thì sẽ bị xử phạt hành chính theo Nghị định số 16/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng. Bên cạnh việc bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định thì căn cứ để tính mức bồi thường thiệt hại sẽ phụ thuộc vào giá trị và mức độ thiệt hại của tài sản. Khi đưa ra được mức bồi thường hợp lý, hai bên sẽ cần đi đến việc ký kết văn bản thỏa thuận để tránh những tranh chấp không đáng có sau này. Việc ký kết văn bản này không phải là quy định bắt buộc, nhưng xét trên phương diện pháp lý thì đây là giấy tờ cần thiết làm bằng chứng cho ý chí của các bên trong quan hệ bồi thường thiệt hại.

Trường hợp hai bên không đưa ra được một thỏa thuận về việc bồi thường thì vấn đề đặt ra là việc tranh chấp này cần có một cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Trong đó, hai phương hướng giải quyết vấn đề ở đây có thể kể đến là việc đề nghị Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn làm công tác hòa giải giữa các bên và vấn đề giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền. 

Khi giải quyết theo hướng hòa giải tại cơ sở hay khởi kiện ra Tòa án thì các bên đều cần phải đưa ra những căn cứ, bằng chứng về yếu tố lỗi, mức độ thiệt hại thực tế làm cư cứ xác định yêu cầu mức bồi thường cụ thể. Đối với thủ tục hòa giải tại cơ sở, một trong hai bên sẽ làm đơn đề nghị về việc hòa giải, sau quá trình hòa giải sẽ nếu đạt được thảo thuận chung sẽ có biên bản về việc hòa giải thành. Trong trường hợp hòa giải không thành công, một trong hai bên sẽ làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân để giải quyết vấn đề tranh chấp về bồi thường dân sự.

Mọi vướng mắc vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến.