1. Đấu giá kiểu Hà Lan

Khái niệm

Đấu giá kiểu Hà Lan hay còn gọi đấu giá giảm dần trong tiếng Anh là Dutch Auction.

Đấu giá kiểu Hà Lan là một hình thức đấu giá công khai, trong đó giá của bán được xác định sau khi xem xét tất cả các giá bán, giá bán được chọn là mức giá cao nhất mà tại đó tổng khối lượng được chào bán có thể được bán. Trong hình thức đấu giá này, các nhà đầu tư đặt giá mua và số lượng họ sẵn sàng mua.

Đấu giá theo kiểu Hà Lan (DUTCH AUTION) là hệ thống đấu giá, còn được gọi là đấu giá đơn, trong bảo lãnh phát hành chứng khoán, ở đó người phát hành hạ giá dần cho đến khi gặp được người đấu thầu. Người mua có thể bỏ thầu bất kỳ giá nào họ muốn, và chứng khoán được bán một giá cho tất cả người mua có giá bỏ thầu bằng hoặc cao hơn giá đấu thầu thiết lập. Bộ Tài chính Mỹ đôi khi cũng áp dụng kỹ thuật đấu giá theo kiểu Hà Lan này, trong các phiên đấu giá trái phiếu Kho bạc và chứng khoán điều chỉnh theo lạm phát.

Đấu giá kiểu Hà Lan là một loại hình đấu giá ngược hay giá của một mặt hàng được hạ xuống cho đến khi nó bằng với một mức trả giá. Giá thầu đầu tiên được giao dịch là giá thầu trúng thầu, giả sử rằng giá cao hơn giá khởi điểm. Điều này trái ngược với các hình thức truyền thống có giá tăng khi các nhà thầu cạnh tranh.

Theo phương pháp này, các nhà đầu tư sẽ bỏ thầu với mức giá cao nhất (lãi suất thấp nhất) mà họ chấp nhận được tương ứng với mức cầu đăng ký. Tổ chức phát hành hoặc bảo lãnh phát hành sẽ xác định nhà đầu tư trúng thầu theo nguyên tắc ưu tiên những nhà đầu tư đặt mua chứng khoán với giá cao (lãi suất thấp) hơn đến khi mà tại mức giá (lãi suất) đó tất cả chứng khoán được bán hết. Nhà đầu tư trúng thầu sẽ mua chứng khoán theo đúng giá thầu mà họ đưa ra. Điều này có nghĩa là sẽ có rất nhiều mức giá trúng thầu.

Để tránh việc nhà đầu tư bỏ mức giá quá cao (lãi suất quá thấp) và không thực hiện mua như đã đặt thầu, thông thường phương pháp này đòi hỏi người đặt thầu phải đặt cọc/ ký quỹ theo một tỷ lệ nhất định trên số lượng đăng ký và lãi suất trần.

Ví dụ: Ngày 1/6/N Chính phủ phát hành trái phiếu ký hiệu CP0N06, mệnh giá

100.000 đồng để huy động 300 tỷ đồng theo phương pháp đấu thầu qua SGDCK Hà Nội. Giả sử tại phiên đấu thầu có 9 đơn vị đặt mua theo số lượng và lãi suất đặt thầu được thống kê ở bảng 3.1.

Bảng 1: Kết quả đặt thầu và trúng thầu

Đơn vị đặt thầu Giá ( lãi suất) Số lượng (tỷ đồng) Cộng dồn số lượng
NHTM B 7,2% 30 30
NHTM A 7.5% 20 50
NHTM E 7.5% 30 80
NHTM C 8.0% 25 105
NHTM D 8.5% 75 180
CTBH I 8.5% 90 270
NHTM F 9.0% 50 320
CTCK H 9.5% 50 370
CTCK G 9.5% 20 390

Kết quả trúng thầu gồm: B, A, E, C, D, I, F. Trong đó: F chỉ mua được 30 tỷ đồng, các nhà đầu tư khác mua được 100% khối lượng đặt thầu. Lãi suất trúng thầu của mỗi tổ chức là lãi suất đặt thầu, cụ thể lần lượt theo thứ tự: 7,2%; 7,5%; 7,5%; 8%; 8,5%; 8,5% và 9%.

 So sánh phương pháp Đấu giá kiểu Hà Lan và Dựng sổ

Phương pháp Đấu giá kiểu Hà Lan Phương pháp Dựng sổ
Phát hành theo nhiều mức giá khác nhau, không kiểm soát được giá trúng thầu và số vốn huy động thực tế Phát hành tại một mức giá duy nhất, kiểm soát được giá phát hành và số vốn huy động thực tế
Đảm bảo tính công bằng cho tất cả các nhà đầu tư Không đảm bảo tính công bằng cho tất cả các nhà đầu tư do tổ chức bảo lãnh có thể thiên vị cho một số khách hàng qua tỷ lệ phân phối
Giá trúng thầu thường lên tới mức cao nên giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp có thể giảm hoặc đi ngang Giá phát hành có thể được định giá ở mức thấp, tạo sự phát triển của thị trường thứ cấp

2. Đặc điểm đấu giá kiểu Hà Lan công khai

Nếu một công ty đang sử dụng đấu giá kiểu Hà Lan để chào bán đợt phát hành cổ phiếu công khai đầu tiên (IPO), các nhà đầu tư tiềm năng sẽ tham gia đấu giá số lượng cổ phiếu họ muốn mua cũng như mức giá mà họ sẵn sàng trả. Một nhà đầu tư có thể đặt giá thầu 100 cổ phiếu ở mức 100 đô la trong khi một nhà đầu tư khác chấp nhận giá 95 đô la cho 500 cổ phiếu.

Khi tất cả các giá thầu được gửi đi, vị thế được chỉ định phân bổ cho các nhà thầu có giá thầu cao nhất trở xuống, cho đến khi tất cả các cổ phần được rao bán được bán hết. Tuy nhiên, giá mà mỗi nhà thầu phải trả là giá thấp nhất của tất cả các nhà thầu mua được vị thế, hay nói đơn giản là giá thầu thành công cuối cùng. Do đó, ngay cả khi bạn đặt giá 100 đô la cho 1.000 cổ phiếu, nếu giá thầu thành công cuối cùng là 80 đô la, bạn sẽ chỉ cần trả 80 đô la cho 1.000 cổ phiếu của mình.

Kho bạc Mỹ thường sử dụng đấu giá kiểu Hà Lan để bán chứng khoán của họ. Để tài trợ cho nợ của chính phủ, Kho bạc Mỹ tổ chức đấu giá thường xuyên để bán trái phiếu kho bạc ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, được gọi chung là trái phiếu chính phủ. Các nhà đầu tư gửi hồ sơ dự thầu điện tử thông qua hệ thống TrillionDirect hoặc TAAPS 30 ngày trước ngày đấu giá.

Giả sử kho bạc tìm cách thu 9 triệu đô la bằng các trái phiếu hai năm với coupon giảm giá là 5%. Giá thầu được đưa ra như dưới đây:

1 triệu đô la với 4,79%

2,5 triệu đô la với 4,85%

2 triệu đô la với 4,96%

1,5 triệu đô la ở mức 5%

3 triệu đô la với 5,07%

1 triệu đô la ở mức 5,1%

5 triệu đô la ở mức 5,5%

Các hồ sơ dự thầu có lợi suất thấp nhất sẽ được chấp nhận trước vì nhà phát hành có lợi hơn khi trả lãi suất thấp cho các nhà đầu tư trái phiếu của mình. Trong trường hợp này, vì kho bạc đang tìm cách tăng 9 triệu đô la, nó sẽ chấp nhận giá thầu với lợi suất thấp nhất là 5,07%.

Tại thời điểm này, chỉ có 2 triệu đô la trong giá thầu 3 triệu đô la sẽ được chấp thuận. Tất cả các giá thầu trên mức lãi suất 5,07% sẽ được chấp nhận và các giá thầu bên dưới sẽ bị từ chối. Thực tế, phiên đấu giá này kết thúc ở mức 5,07% và tất cả các nhà thầu thành công đều nhận được lợi suất 5,07%.

Đấu giá kiểu Hà Lan cũng cung cấp một qui trình đấu thầu thay thế cho qui trình định giá IPO. Khi Google tổ chức các đợt chào bán công khai, họ sử dụng hình thức đấu giá kiểu Hà Lan để xác định một mức giá hợp lí.

3. Đấu thầu thấp nhất kiểu Hà Lan

Tại một phiên đấu giá kiểu Hà Lan, giá bắt đầu cao và được giảm liên tiếp cho đến khi một nhà thầu chấp nhận giá. Khi một mức giá được chấp nhận, phiên đấu giá kết thúc.

Ví dụ, người bán đấu giá bắt đầu từ 2.000 đô la, các nhà thầu theo dõi sự giảm giá cho đến khi nó đạt đến một mức giá mà một trong các nhà thầu chấp nhận. Không có nhà thầu nào có thể nhìn thấy các giá thầu của người khác cho đến khi giá thầu của chính họ được thực hiện, nhà thầu trúng thầu là người có giá thầu cao nhất. 

Vì vậy, nếu không có nhà thầu ở mức 2.000 đô la, giá sẽ giảm từ 100 đô la xuống còn 1.900 đô la. Giả sử tại mốc 1.500 đô la có nhà thầu chấp nhận giá, phiên đấu giá sẽ kết thúc.

Đấu giá kiểu Hà Lan cũng được cho là sẽ giảm thiểu khoản chênh lệch giữa giá chào bán và giá niêm yết thực tế. Các nhà đầu tư tổ chức tận dụng khoản chênh lệch này để thu về lợi nhuận bằng cách mua cổ phiếu với giá chiết khấu và bán chúng ngay sau khi cổ phiếu được niêm yết. Đấu giá kiểu Hà Lan được xem là một phương pháp công bằng và minh bạch vì nó xem xét một loạt các giá thầu từ nhiều thành phần khách hàng.

Hạn chế của đấu giá kiểu Hà Lan là giá của cổ phiếu có thể giảm ngay sau khi niêm yết và các nhà đầu tư, người đã trả giá cao hơn trước đó, nhận ra rằng họ có thể tính toán sai và trả giá quá cao. Các nhà đầu tư như vậy có thể cố gắng bán khống để thoát vị thế nắm giữ của họ dẫn đến sự tụt giảm mạnh trong giá cổ phiếu.

 

4. Đấu giá (đấu thầu) mở (Open Auction)

Đấu giá (đấu thầu) mở là một phương thức được phát triển trong một thập kỉ gần đây (từ 1997) nhằm khắc phục nhược điểm của phương thức đấu thầu/đấu giá kiểu Hà Lan và phương pháp dựng sổ truyền thống. Về cơ bản, phương pháp đấu giá (đấu thầu) mở thực hiện tương tự như đấu giá (đấu thầu) kiểu Hà Lan, tuy nhiên các nhà đầu tư trúng thầu được áp dụng cùng một mức lãi suất cao nhất mà chứng khoán có thể phân phối hết. Các nhà đầu tư sẽ bỏ thầu với mức giá cao nhất (lãi suất thấp nhất) mà họ chấp nhận được tương ứng với mức cầu đăng ký. Tổ chức phát hành hoặc bảo lãnh phát hành sẽ xác định mức giá cao nhất (lãi suất thấp nhất) mà tại đó tất cả chứng khoán được bán hết. Nhà đầu tư đặt thầu với mức giá cao hơn (lãi suất thấp hơn) mức giá (lãi suất) trúng thầu sẽ được đáp ứng toàn bộ nhu cầu đăng ký. Nhà đầu tư đặt thầu với mức giá (lãi suất) bằng mức giá (lãi suất) trúng thầu sẽ được đáp ứng toàn bộ hoặc chỉ một phần nhu cầu đăng ký. Nhà đầu tư đặt thầu với mức giá thấp (lãi suất cao) hơn mức giá (lãi suất) trúng thầu sẽ không được đáp ứng nhu cầu đăng ký.

Trở lại ví dụ nêu ở bảng 1, nếu áp dụng đấu thầu mở thì lãi suất trúng thầu là 9% và tất cả các nhà đầu tư trúng thầu đều được mua trái phiếu với lãi suất 9%.

Thực tế IPO tại Việt Nam

 

Từ năm 2006 đến nay, Việt Nam bắt đầu tiến hành cổ phần hóa các DNNN có quy mô lớn, ví dụ: Vietcombank, Tập đoàn Bảo Việt, Habeco, Sabeco, PVFC, Vietinbank. Phương pháp chủ yếu được áp dụng khi IPO các doanh nghiệp này là Đấu giá kiểu Hà Lan. Thực tế áp dụng phương pháp này tại Việt Nam có một số hạn chế sau:

  • Lạm dụng chào giá cao nhằm kéo giá bình quân tăng lên. Một số nhà đầu tư đưa giá cao một cách khó hiểu và chấp nhận bỏ cọc. Nhiều nhà phân tích cho rằng, mục đích của việc đưa giá cao nhằm tạo ra sốt ảo để lũng đoạn thị trường và nhằm tăng phần giá trị chiết khấu ưu đãi đối với nhân viên (thông thường 40%). Tỷ lệ bỏ cọc cao dẫn đến hệ quả các phiên đấu giá thường không thành công như mong muốn.
  • Việc định giá cao, việc Nhà nước thu hồi phần lớn thặng dư phát hành, việc đưa ra tỷ lệ chào bán ra công chúng ở mức thấp (10-15%) đã dẫn đến sự bất cân đối cung cầu trong thời kì thị trường phát triển nóng, gây nên những hệ lụy nghiêm trọng như giá cổ phiếu giảm sau IPO, việc tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược nước ngoài khó khăn và gây áp lực lớn lên ban điều hành của doanh nghiệp sau