Theo đó, sự ra đời của triết học Mác không phải ngẫu nhiên mà là sự kết tinh có tính quy luật của quá trình phát triển lịch sử tư tưởng triết học nhân loại trên cơ sở các điều kiện kinh tế - xã hội cũng như trình độ khoa học công nghệ của thế kỷ thứ 19.

Như vậy, Luật Minh Khuê mang đến các bạn bài viết sau đây với mong muốn cung cấp một cái nhìn tổng thể nhất về sự ra đời của chủ nghĩa Mác. Đồng thời nắm bắt được những diều kiện tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác, một sự ra đời góp phần rất lớn trong công cuộc xây dựng một chủ nghĩa mới.

 

1. Chủ nghĩa Mác là gì? 

Xét từ nhiều góc độ, thuật ngữ Chủ nghĩa Mác - Lênin có thể được giải thích theo nhiều cách khác nhau.

Xét từ góc độ đối tượng: Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống các quan điểm và học thuyết khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột tàn bạo và tiến tới thực hiện sự nghiệp giải phóng con người.

Xét từ góc độ vai trò, chức năng: Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết đóng vai trò là thế giới quan và phương pháp luận phổ biến cho sự sáng tạo trong nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng. 

Xét từ góc độ cấu tạo: Chủ nghĩa Mác - Lênin gồm ba bộ phận lý luận cơ bản đó là triết học Mác - Lênin; Kinh tế chính trị học Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học.

Từ các cách tiếp cận trên, có thể hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa được hình thành và phát triển dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn đồng thời kế thừa những giá trị tư tưởng của nhân loại; là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học cũng như thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột tàn bạo và tiến tới giải phóng con người. 

>> Xem thêm: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc?

 

2. Những điều kiện tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác

2.1. Điều kiện tiền đề kinh tế và xã hội

Vào giữa thế kỷ thứ 19, chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập cũng như đạt được sự phát triển rất mạnh mẽ tại những nước Châu Âu, nhất là tại những nước như Anh và Pháp. Sự phát triển này một mặt đã tạo ra những thành tựu to lớn trong lĩnh vực kinh tế, tuy nhiên mặt trái của nó đã tạo ra mâu thuẫn khó giải quyết, cụ thể là mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Theo đó, mâu thuẫn này được bộc lộ thành các cuộc đấu tranh ngày một phát triển bên phía giai cấp công nhân tại những nước tư bản. Điển hình là các cuộc đấu tranh ở giai cấp công nhân làm thuê của Anh, Đức và nước Pháp. Sự phát triển của những cuộc đấu tranh đó đã làm phát sinh những nhu cầu cần có một lý luận về cách mạng, khoa học. Bởi vậy, sự ra đời của chủ nghĩa Mác đã đáp ứng được nhu cầu đó. Chính sự phát triển của các cuộc đấu tranh này đã trở thành một trong những điều kiện tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác.

 

2.2. Điều kiện tiền đề lý luận

Như đã nói, chủ nghĩa Mác chính là sự kế thừa tinh hoa của di sản lý luận nhân loại. Theo đó, trực tiếp là triết học cổ điển của Đức, kinh tế chính trị cổ điển của Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng của Pháp. Cụ thể như sau:

Lý luận triết học cổ điển của Đức

Với triết học cổ điển của Đức nhất là triết học của Hêghen và Phoiơbắc, đã có sự ảnh hưởng rất sâu sắc đến quá trình hình thành thế giới quan cũng như phương pháp luận của chủ nghĩa Mác. Bên cạnh đó, công lao của Hêghen chính là phép biện chứng duy tâm và là tính chất phản động trong quan điểm về lĩnh vực chính trị.

Bởi vậy, Mác cùng Ăngghen khi đưa ra những phê phán về triết học của Hêghen đã không phủ định sạch trơn mà giữ lại những hạt nhân hợp lý của phép biện chứng đó. Nhưng phép biện chứng của Hêghen lại là phép duy tâm cùng với đó Mác và Ăngghen đã cải tạo nhằm hình thành lên những hiện chứng duy vật của mình.

Mặt khác đối với Phoiơbắc, Ăngghen cùng Mác đã phê phán tính chất siêu hình trong chủ nghĩa duy vật và những quan điểm đối với tự nhiên, cùng với tính chất duy tâm về quan điểm xã hội. Nhưng chủ nghĩa duy vật và vô thần của Phoiơbắc đã xây dựng nên tiền đề rất quan trọng của Mác và Ăngghen, từ thế giới quan duy tâm chuyển sang thế giới quan duy vật. Đồng thời từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản chủ nghĩa.

Lý luận kinh tế chính trị cổ điển của Anh 

Với kinh tế chính trị cổ điển của Anh thì A.Smith và D.Ricácđô chính là người có công rất lớn trong việc nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế chính trị. Đồng thời xây dựng thành công lý luận về giá trị của lao động cũng như đưa ra những kết luận quan trọng đối với giá trị sống và nguồn gốc của lợi nhuận.

Ngoài ra, Mác và Ăngghen đã kế thừa các quan điểm hợp lý khoa học có trong thuyết trên. Từ đó phê phán và khắc phục những tính chất chưa triệt để trong học thuyết giá trị về mặt lao động và những phương pháp siêu hình, có trong nghiên cứu của những nhà kinh tế học cổ điển của Anh. Hơn nữa trên cơ sở này, Mác và Ăngghen đã xây dựng lên học thuyết đối với giá trị lao động và học thuyết về giá trị thặng dư, cùng luận chứng khoa học về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và việc ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội cùng chủ nghĩa cộng sản.

Lý luận chủ nghĩa xã hội không tưởng của Pháp

Như đã biết, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã có sự phát triển rất lâu dài cùng với đỉnh cao vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX. Đối với những đại biểu như S.Simin, R.Owen và Fourier, thì Mác cùng Ăngghen đã kế thừa các tư tưởng nhân đạo, cùng sự phê phán mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản đã đưa ra những dự báo về xã hội của tương lai. 

Hơn nữa hai ông đã có những khắc phục về những hạn chế có trong học thuyết đó, đây chính là tính chất không tưởng có trong những học thuyết này. Điều này đã tạo nên tiền đề lý luận quan trọng, đối với sự ra đời của lý luận khoa học đối với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác.

 

2.3. Điều kiện tiền đề khoa học tự nhiên

Vào thế kỷ thứ 19, lúc này khoa học tự nhiên đã có rất nhiều những thành tựu to lớn và đòi hỏi triết học phải có những cái nhìn thật đúng đắn về thế giới. Bên cạnh đó, ba phát minh quan trọng đã có ảnh hưởng rất lớn tới sự ra đời của chủ nghĩa Mác, đó là:

- Phát minh định luật bảo toàn và những chuyển hóa năng lượng: Đối với định luật đã chứng minh rằng năng lượng không tự sinh ra mà cũng không tự mất đi, nó chỉ chuyển từ dạng này sang một dạng khác hoặc chuyển từ vật này sang một vật khác. Hơn nữa, định luật này đã chứng minh về mối liên hệ không thể tách nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau được bảo toàn bởi những hình thức vận động của vật chất trên thế giới tự nhiên.

- Khoa học tự nhiên về thuyết tiến hóa: Với thuyết tiến hóa đã mang lại cơ sở khoa học về những phát sinh và phát triển đa dạng mang tính di truyền, biến dị cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa những loài thực vật và động vật trong suốt quá trình chọn lọc tự nhiên.

- Khoa học tự nhiên về thuyết học tế bào: Đối với thuyết học tế bào chính là căn cứ khoa học chứng minh sự thống nhất của mặt nguồn gốc và hình thái, cùng cấu tạo vật chất về cơ thể thực vật và động vật trong quá trình phát triển, về sự sống trong mối liên hệ của chúng. Những thuyết này đã chứng minh thế giới vật luôn tồn tại vĩnh viễn.

Đây chính là những điều kiện tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác đã mang tới rất nhiều ý nghĩa to lớn trong việc phát triển xã hội.

>> Tham khảo: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Trên đây là toàn bộ bài viết của chúng tôi về vấn đề những điều kiện tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác và một số những kiến thức lý luận có liên quan. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào có liên quan, quý khách hàng vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7. Gọi số 1900.6162 hoặc gửi email chi tiết tại: Tư vấn pháp luật qua Email. Chúng tôi rất mong nhận được sự hợp tác từ quý khách hàng. Trân trọng./.