1. Đền bù đất nằm trong hành lang giao thông ?

Chào luật sư, xin hỏi: Tôi có câu hỏi mong nhận được sự tư vấn của luật sư. Hiện tại, tôi sinh sống ở huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Vừa rồi, nhà tôi có làm đường, nhưng khi người ta làm đường thì đo đạc và xác định đất đó vẫn còn nằm trong hành lang giao thông, chỉ giới 10,5m.

Tuy nhiên phần đất đó gia đình tôi có mua lại từ xưa của hộ gia đình người khác, có giấy viết tay xác nhận của 2 bên, khi cấp giấy chứng nhận thì trích lục không ghi phần đất đó vào. Giờ tiến hành làm đường thì đo đạc thuộc phần đất hành lang giao thông, vào tầm 4m. Vậy theo quyết định mới hiện này gia đình chúng tôi có được đền bù hay không?

Kính mong luật sư giải đáp giúp tôi.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật đất đai về đền bù khi thu hồi đất gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Căn cứ Điều 82 Luật đất đai năm 2013 số 45/2013/QH13 quy định:

"Điều 82. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất

Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;

2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;

3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;

4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này."

Điều 76. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Các trường hợp không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:

a) Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật này;

b) Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;

c) Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;

d) Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

đ) Đất nhận khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

Như vậy, nếu đất mà gia đình bạn đang sử dụng không thuộc các trường hợp quy định tại điều 82 Luật Đất đai thì gia đình bạn sẽ được Nhà nước bồi thường. Mức bồi thường được quy định như sau:
Ban hành kèm theo Quyết định số 04/2019/QĐ-UBND quyết định của UBND tỉnh Bình Định có quy định chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bình Định như sau:

"Điều 13. Bồi thường, hỗ trợ đất nằm trong hành lang bảo vệ, hành lang an toàn công trình công cộng trước khi Nhà nước công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ

1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nằm trong hành lang bảo vệ, hành lang an toàn công trình công cộng (gọi tắt: hành lang) trước khi Nhà nước công bố, cắm mốc nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã trừ phần đất nằm trong hành lang theo quy định. Nay Nhà nước thu hồi phần đất này được UBND cấp xã xác nhận hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, không tranh chấp thì được bồi thường, hỗ trợ như sau:

a) Trường hợp diện tích đất ở đã cấp giấy chứng nhận nhỏ hơn hạn mức đất ở tại thời điểm cấp giấy chứng nhận thì phần diện tích đất nằm trong hành lang được bồi thường đất ở cho đủ hạn mức đất ở tại thời điểm cấp giấy chứng nhận; trường hợp sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì tiền bồi thường đất ở phải trừ đi 50% tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định của Nhà nước.

b) Trường hợp thửa đất có diện tích đất ở đã cấp giấy chứng nhận bằng hoặc lớn hơn hạn mức đất ở tại thời điểm cấp giấy chứng nhận thì phần diện tích đất nằm trong hành lang được bồi thường như sau:

- Phần diện tích đất nằm trong hành lang đã xây dựng nhà ở và công trình trước ngày 01/7/2004 để phục vụ cho việc ở của hộ gia đình, cá nhân thì được bồi thường đất ở nhưng phải trừ đi diện tích đất ở trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Phần diện tích đất nằm trong hành lang không phải là diện tích xây dựng nhà ở và công trình phục vụ cho việc ở của hộ gia đình, cá nhân thì được bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp.

2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất (ổn định, không có tranh chấp) nằm trong hành lang bảo vệ, hành lang an toàn công trình công cộng trước khi Nhà nước công bố, cắm mốc nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được xem xét bồi thường, hỗ trợ về đất theo quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều này; trường hợp sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì tiền bồi thường đất ở phải trừ đi 50% tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định của Nhà nước."

>> Tham khảo bài viết: Vai trò của UBND cấp xã trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư ? Thủ tục thu hồi đất đai ?

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ? Hướng dẫn chính sách đền bù khi bị thu hồi đất đai ?

2. Mức giá đất đền bù như thế nào là hợp lý ?

Thưa luật sư cho em hỏi một chút: Em có thửa đất nằm trong diện đền bù giải tỏa là 1.536.3m2. Diện tích đất ở là 200m2, được đền bù với mức giá 840.000/m2. Còn lại 1.336.3m2 đất trồng cây lâu năm liền kề được đền bù với mức giá 45.000/m2. Mức giá đó có hợp lý không thưa luật sư?
Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Vinh Quang

Khoản 3, 4 Điều 114 Luật đất đai 2013:

“3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể.

Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp. Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định.

Hội đồng thẩm định giá đất gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch và đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất.

4. Giá đất cụ thể được sử dụng để làm căn cứ trong các trường hợp sau đây:

a) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân. Tính tiền thuê đất đối với đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất, vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân;

b) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức mà phải nộp tiền sử dụng đất;

c) Tính tiền thuê đất đối với trường hợp Nhà nước cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất;

d) Tính giá trị quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp cổ phần sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; tính tiền thuê đất đối với trường hợp doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm;

đ) Tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.”

Như vậy, để xác định mức giá đất đền bù là bao nhiêu phải căn cứ vào bảng giá đất cụ thể của từng địa phương do UBND tỉnh nơi có đất quy định. Do mức giá đất đền bù của từng địa phương khác nhau nên chúng tôi chưa thể kết luận được mức giá bồi thường như vậy có hợp lý hay không.

3. Có được xây dựng nhà ở trên đất tạm giao không ?

Năm 2001 gia đình tôi xây dựng nhà ở trên đất tạm giao (đất ghi trong sổ giao đất (bìa xanh)), năm 2005 gia đình tôi được UBND thị xã hợp thức hóa theo chỉ thị 18/CT-CP sau khi có quyết định gia đình tôi đã kê khai và thực hiện nghĩa vụ tài chính, đến nay chưa được cấp giấy. Sau UBND xã hoàn thiện hồ sơ tổ chức xét duyệt và có thông báo gửi về gia đình tôi bảo là không đủ điều kiện, gia đình tôi đã tự ý chuyển mục đích sử dụng đất bây giờ phải lập biên bản vi phạm và cấp theo điều 22 nghị định 43 nếu phù hợp quy hoạch ?

Mong luật sư giúp với ạ.

-Phạm Văn Thìn

Trả lời:

Điều 57 Luật Đất đai 2013 quy định về chuyển mục đích sử dụng đất như sau:

1. Các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:

a) Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối;

b) Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nước mặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm;

c) Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

d) Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp;

đ) Chuyển đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất sang đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất;

e) Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

g) Chuyển đất xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng có mục đích kinh doanh, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất thương mại, dịch vụ sang đất thương mại, dịch vụ; chuyển đất thương mại, dịch vụ, đất xây dựng công trình sự nghiệp sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

2. Khi chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; chế độ sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được áp dụng theo loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng.

Như vậy, nếu gia đình bạn thuộc trường hợp phải xin cấp phép chuyển mục đích sử dụng đất nêu trên mà bạn đã không xin cấp phép và tự ý chuyển mục đích sử dụng đất thì bạn đã vi phạm pháp luật đất đai và sẽ bị xử lý hành chính theo quy định. Tuy nhiên nếu mảnh đất đó không thuộc các quy hoạch, dự án thì bạn vẫn sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP về việc xử lý, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 như sau:

3. Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất thuộc trường hợp phải xin phép theo quy định của pháp luật về đất đai mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thì thực hiện xử lý như sau:

a) Trường hợp đang sử dụng đất thuộc quy hoạch sử dụng đất cho các mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai thì Nhà nước thu hồi đất trước khi thực hiện dự án, công trình đó.

Người đang sử dụng đất vi phạm được tạm thời sử dụng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng phải giữ nguyên hiện trạng đang sử dụng đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định;

b) Trường hợp đang sử dụng đất không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất; người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất

4. Đền bù đất làm đường giao thông ?

Thưa luật sư! tôi là công đám xã X, huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình, hiện đang có dự án làm đường giao thông, gia đình tôi có thầu của xã một mảnh đất cạnh mặt đường giao thông mà từ mảnh đất của tôi cách đường giao thông 5m, gia đình tôi có do đất vượt lập để đi lại làm ăn cho tiện với đường.
Vậy bây giờ nhà nước thu hồi lại để làm đừờng giao thông tôi có được nhà nước đền bù phần đất vượt lập đó hay không ?
Nhờ luật sư tư vấn hộ gia đình tôi.

Đền bù đất làm đường giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về phần đất vượt lập của gia đình bạn:

Theo như nội dung mà bạn đã trình bày thì bạn có phần đất vượt lập , tức đây là phần đất lấn, gia đình bạn đã có hành vi lấn đất . Căn cứ vào quy định tại khoản 1, điều 3 của Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai:

Điều 3. Giải thích từ ngữ

1. Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất.

Mặc dù đây là hành vi pháp luật cấm, tuy nhiên tùy từng vào thời điểm lấn đất thì sẽ được giải quyết khác nhau. Cụ thể:

Gia đình bạn lấn đất trước ngày 1/7/2014. Đối với trường hợp này phần diện tích gia đình bạn lấn có thể sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3, điều 22 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai:

Điều 22. Việc xử lý, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014

3. Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất thuộc trường hợp phải xin phép theo quy định của pháp luật về đất đai mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thì thực hiện xử lý như sau:

a) Trường hợp đang sử dụng đất thuộc quy hoạch sử dụng đất cho các mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai thì Nhà nước thu hồi đất trước khi thực hiện dự án, công trình đó.

Người đang sử dụng đất vi phạm được tạm thời sử dụng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng phải giữ nguyên hiện trạng đang sử dụng đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định;

b) Trường hợp đang sử dụng đất không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất; người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Từ quy định trên có thể thấy đất lấn chiếm trước ngày 1/7/2014 sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thứ hai, về việc bồi thường cho mảnh đất trên khi làm đường giao thông

Điều 82 Luật đất đai 2013 quy định:

"Điều 82. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất

Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;

2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;

3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;

4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này."

Điều 76. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Các trường hợp không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:

a) Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật này;

b) Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;

c) Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;

d) Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

đ) Đất nhận khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

Điều 64. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai

1. Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

Điều 65. Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người

1. Các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người bao gồm:

a) Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

b) Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

c) Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

d) Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn;

đ) Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người;

e) Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người.

Vậy, căn cứ vào từng thời điểm gia đình bạn lấn đất để có thể xác định được gia đình bạn có được đền bù về giá trị đất, nhà và hoa màu hay không. Nếu đất lấn trước ngày 1/7/2014 thì gia đình bạn có thể được bồi thường về đất. Nhưng nếu hành vi này thực hiện sau ngày 1/7/2014 thì sẽ không được bồi thường về đất.

>> Xem thêm:  Tư vấn cách tính thuế xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật

5. Quyền dân biết, dân bàn trong dự án đền bù giải toả đất đai ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Trong quá trình triển khai dự án xây dựng đường vào khu công nghiệp, cán bộ Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng thị xã A và Chủ tịch UBND xã X đã thống nhất khoán trắng cho ông Thanh, Trưởng thôn M thực hiện một số công việc của dự án như: lập danh sách đền bù, nhận tiền đền bù và chi trả cho các hộ dân trong thôn bị thu hồi đất với tổng số tiền hơn 43 triệu đồng. Lợi dụng chức trách được giao, ông Thanh đã đưa vào danh sách đền bù hộ bà Hường tuy thực tế không bị thu hồi đất nhưng được khai khống để có trong danh sách số tiền đền bù là 5 triệu đồng. Số tiền này được ông Thanh giữ lại cho riêng mình.
Không chỉ vậy, trong danh sách đền bù còn có hộ ông Khuông, bị thu hồi đất và đã nhận thanh toán số tiền đền bù 4 triệu đồng nhưng đến tháng 7/2005, biết được việc UBND thị xã A có chủ trương yêu cầu UBND thị trấn X phải thu hồi một số khoản đền bù thu hồi đất đã cấp không đúng đối tượng, ông Thanh đã tự ý đến nhà ông Khuông yêu cầu nộp lại 2 triệu trong tổng số 4 triệu mà gia đình ông Khuông đã được đền bù trước đó. Ông Khuông đã buộc phải nộp lại số tiền này trong khi hộ gia đình ông không có tên trong danh sách bị thu hồi tiền. Như vậy có những vi phạm pháp luật nào xuất hiện trong tình huống? Đâu là nguyên nhân để xảy ra tình huống này.
Nếu là Chủ tịch UBND xã, cần triển khai các vụ việc tương tự như thế nào để tránh những sai phạm như nêu trong tình huống trên đây?

>> Luật sư tư vấn luật đất đai đền bù đất, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Tình huống trên đề cập đến một nội dung quan trọng của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã ban hành theo Nghị định 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 7 năm 2003: vấn đề thực hiện dân chủ trong đền bù giải phóng mặt bằng; trách nhiệm và quyền hạn của Trưởng thôn, cán bộ địa chính xã trong giải phóng mặt bằng. Nguyên nhân trực tiếp để xảy ra những tiêu cực trong vụ việc là do quá trình thực hiện dự án thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, chính quyền xã đã không thực hiện đầy đủ các quy định trong Quy chế thực hiện dân chủ ở xã về quyền dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra đối với vấn đề này, mà cụ thể là các quy định tại khoản 3 Điều 5 (về trách nhiệm thông báo công khai cho người dân biết về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai), khoản 7 Điều 10 (về trách nhiệm để nhân dân bàn, tham gia ý kiến về chủ trương, phương án đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng cơ sở, tái định cư), khoản 7 Điều 12 (về trách nhiệm để nhân dân tham gia giám sát, kiểm tra công trình của cấp trên triển khai trên địa bàn xã có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, an ninh, trật tự, văn hoá - xã hội, vệ sinh môi trường và đời sống của nhân dân địa phương) của Quy chế. Trong vụ việc này đã phát sinh hành vi vi phạm pháp luật của ông Thanh, Trưởng thôn M, mà cụ thể là cấu thành các tội tham ô tài sản (do hành vi chiếm dụng khoản tiền đền bù của hộ bà Hường) và tội lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản (do hành vi tự ý đến nhà ông Khuông truy thu lại tiền). Bên cạnh đó, chính quyền xã X đã không thực hiện đầy đủ các quy định về dân chủ ở cơ sở liên quan đến chủ trương, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng, đồng thời Ban Quản lý dự án thị xã A và chính quyền xã buông lỏng quản lý đã tạo điều kiện thuận lợi để ông Thanh dễ dàng thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật của mình. Có thể phân tích những sai phạm của UBND xã X như sau:

Thứ nhất, quy hoạch đất đai và việc đền bù giải phóng mặt bằng với các nội dung cụ thể như: thông báo về dự án, chủ trương phương án đền bù giải phóng mặt bằng... là những loại việc phải được thông báo công khai cho nhân dân trong thôn, xã có liên quan để nhân dân nói chung và những hộ gia đình có quyền và lợi ích liên quan được biết (khoản 7 Điều 5 Quy chế thực hiện dân chủ ở xã).

Thứ hai, các vấn đề cụ thể về chủ trương và phương án đền bù trong dự án giải phóng mặt bằng như kê khai danh sách các hộ được đền bù và diện tích bị thu hồi được đền bù, đơn giá đền bù, số tiền đền bù cụ thể... là những vấn đề UBND xã không chỉ có trách nhiệm thông báo cho dân biết mà còn phải có hình thức thích hợp để đưa ra dân bàn bạc, đóng góp ý kiến (theo quy định tại khoản 7 Điều 10 Quy chế thực hiện dân chủ ở xã). Việc thực hiện quyền dân bàn trong trường hợp này tốt nhất là thông qua hình thức họp dân, rồi sau đó tổng hợp lại ý kiến đóng góp, niêm yết công khai để tránh mọi sự khiếu nại thắc mắc, trước khi trình lên Ban Quản lý dự án quyết định mức đền bù.

Trong vụ việc trên, việc cán bộ của Ban Quản lý dự án và Chủ tịch UBND xã X khoán trắng cho Trưởng thôn thực hiện các công việc về lập danh sách và chi trả tiền đền bù đã bộc lộ tính thiếu dân chủ: cán bộ địa chính không chủ trì họp dân và lấy ý kiến đóng góp của dân; không thông báo công khai quy hoạch để người dân có thể tự mình biết rõ những hộ bị thu hồi đất, diện tích đất bị thu hồi và được đền bù, số tiền được đền bù... mà tất cả đều thông qua Trưởng thôn - do đó đã tạo điều kiện để Trưởng thôn lợi dụng sơ hở mà vi phạm pháp luật.

Đồng thời, việc khoán trắng cho Trưởng thôn thực hiện những công việc đó cũng thể hiện sự tắc trách, buông lỏng quản lý của chính quyền xã. Cụ thể là: theo quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng thôn tại khoản 2 Điều 17 Quy chế thực hiện dân chủ ở xã thì việc thống kê tình trạng đất, lên danh sách các hộ được đền bù, chi trả tiền đền bù... không phải là nhiệm vụ của Trưởng thôn.

Đây là công việc thuộc trách nhiệm của cán bộ địa chính - công chức chuyên môn của UBND xã. Trưởng thôn có thể tham gia vào các nhiệm vụ trên nhưng không phải với tư cách chủ động của người có nhiệm vụ, quyền hạn mà chỉ là vai trò hỗ trợ cán bộ của UBND xã thực hiện nhiệm vụ. Mọi giấy tờ, xác nhận hay danh sách đều phải được lập và ký bởi cán bộ có chức năng, nhiệm vụ của UBND xã chứ không được để Trưởng thôn tự lập và tự ký tên. Trên thực tế, cách triển khai dự án giải phóng mặt bằng mà không tuân thủ các quy định về dân chủ ở cơ sở như trong vụ việc này không chỉ là nguyên nhân làm nảy sinh các hành vi vi phạm pháp luật, mà còn có thể dẫn đến những nguy cơ làm mất niềm tin của nhân dân vào chính quyền, dẫn đến việc khiếu nại, tố cáo gây mất đoàn kết, ổn định trật tự xã hội tại địa phương.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162 . Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi gây thiệt hại về tinh thần thì sẽ phải bồi thường ra sao ?