1. Hỏi về đền bù đất do quy hoạch mở đường giao thông?

Thưa luật sư, Tôi làm giáo viên ở huyện Đ, tỉnh L, tôi có câu hỏi nhờ luật sư tư vấn giúp. Con đường trung tâm của huyện Đ trước đây là đường lên xã, năm 2000 mở ra rộng 3m. Cuối năm 2004 thành lập huyện và được đổ nhựa 3m. Sau đó nhân dân làm nhà phá bỏ cafe, làm nhà lùi sâu vào 7,5m tính từ tim đường vào (do UBND xã quy định) người dân đã chấp hành.
Nhưng đến nay lại mở đường thì được cán bộ phòng kinh tế hạ tầng thông báo là vào 12m từ tim đường vào, nếu trúng nhà nào, thì yêu cầu gia đình tự tháo dỡ không bồi thường, nếu gia đình nào không tự tháo dỡ thì họ tự tháo dỡ và lấy luôn vật tư. Ở đây có nhà bị trúng mái hiên, có nhà vào nhà 1-2m. Vậy theo quy định có được bồi thường, đền bù không? (Ở đây đất đai nhà cửa không có sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) vì hơn 10 năm nay huyện không cho làm sổ lý do đang quy hoạch).
Rất mong luật sư tư vấn giúp.

Trả lời:

Chào bạn, cám ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến bộ phận tư vấn pháp luật của công ty luật Minh Khuê, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau :

Như bạn nêu trên, phần đất đang trong diện bồi thường đã có quy hoạch làm đường từ năm 2000, các gia đình sinh sống tại khu vực này có xây dựng nhà ở nhưng không xây dựng vào phần quy hoạch mà cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, sau đó đường này được mở rộng ra thêm theo một phương án quy hoạch mới thì phần tài sản (bao gồm nhà ở , công trình , cây cối ...) của các hộ gia đình đã sinh sống trên đó đã hình thành trước khi quy hoạch thì trong trường hợp này, khi có quyết định thu hồi đất cơ quan có thẩm quyền phải bồi thường về đất và về tài sản gắn liền trên đất theo quy định của Luật đất đai 2013 nêu trên như sau:

Căn cứ Điều 79 Luật đất đai 2013:

"Điều 79. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:

a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;

b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.

3. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Về vấn đề có những gia đình bị thu hồi và phải tháo dỡ một phần căn nhà thì căn cứ vào Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP Nghị định quy định về bồi thường, hỗ trợ; tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất :

"Điều 6. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.

3. Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thi được Nhà nước bồi thường bằng tiền.

4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

5. Trường hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất đó sang đất ở trong hạn mức giao đất ở tại địa phương, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyển mục đích sang đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

6. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Trường hợp thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại vẫn đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng tiền đối với phần diện tích đất thu hồi;

b) Trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất hoặc thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng đất để thực hiện dự án hoặc bồi thường bằng tiền;

c) Đối với dự án đã đưa vào kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường bằng tiền."

Theo Khoản 3 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP, trường hợp bạn không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thì bạn được Nhà nước bồi thường bằng tiền.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Điều kiện để được đền bù đất đai?

Thưa Luật sư, em có vấn đề mong các luật sư tư vấn giúp: Nhà em có 1 mảnh đất mặt đường sử dụng từ năm 1994 đến nay không có giấy tờ gì. Đến năm 1998 gia đình em vừa xây xong hàng rào bao quanh mảnh đất thì có dự án làm đường và cắm mốc lộ giới lấn vào giữa mảnh đất nhà em, chính quyền địa phương không có ý kiến và cũng không giải thích gì về việc này.
Nay có dự án làm đường thì gia đình em có được đền bù không?
Cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật đất đai về thu hồi đất đền bù, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 quy định về điều kiện hộ gia đình, cá nhân được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như sau:

"Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp."

Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

"Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."

Phần đất này gia đình bạn sử dụng trước năm 2004, không có tranh chấp, không vi phạm pháp luật đất đai thì được xem xét là đủ điều kiện để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, theo quy định trên, nếu đất của gia đình bạn chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai 2013 thì trường hợp này đất của gia đình bạn sẽ được Nhà nước bồi thường về đất theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ? Hướng dẫn chính sách đền bù khi bị thu hồi đất đai ?

3. Đất được đền bù rồi giờ có được đền bù theo luật mới nữa không?

Kính chào luật sư! cho tôi hỏi là tại quê tôi. Nhà nước thu hồi đất để làm khu công nghiệp. Thu hồi năm 2005. Và bồi thường cho người dân là 6 triệu đ/ sào (360 m2). Mức bồi thường trên là bồi thường hoa màu tính từ năm 2005 đến 2013. Quê tôi đất lúa cấy 2 vụ. Nhưng bây giờ là đất 50 năm.
Cho tôi hỏi là người dân nghèo quê tôi có được hộ trợ đền bù tiếp tính từ năm 2013 trở đi nữa không?
Trân trọng cảm ơn!
Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 thì:

"Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp."

Theo như quy định trên, các chủ thể đủ điều kiện để được bồi thường thì sau khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế thì Nhà nước sẽ tiến hành bồi thường dựa trên giá đất ở thời điểm thu hồi và các chi phí hợp lý khác mà người sử dụng đất đã phải bỏ ra. Thời điểm mà Nhà nước thu hồi đất của gia đình bạn là từ năm 2005, lúc này Luật Đất đai năm 2013 chưa có hiệu lực thì việc bồi thường đất sẽ được tiến hành theo Luật Đất đai cũ (2003). Đến nay việc bồi thường đã hoàn tất, Luật Đất đai năm 2013 không có quy định nào về việc các hộ gia đình đang được bồi thường về việc Nhà nước thu hồi đất thì tiếp tục được bồi thường theo quy định của Luật mới đối với thời hạn giao đất. Như vậy, trong trường hợp này, gia đình bạn sẽ chỉ được bồi thường theo quy định của Luật Đất đai cũ (2003), đến nay là đã hoàn tất.

>> Xem thêm:  Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ? Thủ tục mua bán, tách sổ của lô đất ?

4. Tư vấn về việc bồi thường, đền bù đất?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Gia đình nhà tôi nằm trong diện giải tỏa cho dự án nhà ở chuyên gia của nhà máy điện hạt nhân - Ninh Thuận. Họ đã tới khảo sát và đo đạc tài sản trên diện tích đất nhà tôi có diện tích đất là 1.923 m bao gồm: Giếng nước; Nhà ở (cấp 4); Motor; Mương nước; Hoa màu lâu năm (nha đam).

Ba mẹ tôi có đi họp về tình hình giải tỏa và đền bù, bên cơ quan có nói rằng: Có 2 mức giá 400.000 đồng/m2 và 210.000 đồng/m2, họ giải thích:

700m đầu tiên là tính 400.000 đồng/m2 (700m x 400.000=280.000.000 đồng).

Còn lại là tính với mức giá 210.000 đồng/m2 (1223m x 210.000 =256.830.000 đồng).

Những tài sản còn lại tính riêng, nhưng chưa nhắc đến. Vì họ chỉ mới đo đạc và họp nói như thế, chưa có tiền đền bù nhưng tôi thấy rất lạ vì chưa từng thấy có quy định nào như vậy. Chính quyền địa phương tính hai đơn giá như trên có đúng quy định của pháp luật không? Mong Luật sư giải đáp giúp tôi.

Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Phạm Thị Thảo

Tư vấn về việc đền bù đất?

Tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn trình bày, trên phần đất của gia đình bạn ngoài nhà ở ra còn có phần đất trồng cây hoa màu, mương nước, giếng, motor ( đây có thể gọi là đất vườn, ao). Vậy để xác định được mức đền bù mà gia đình bạn được đền bù, thì sẽ phải xác định diện tích đất ở đối với diện tích đất vườn, ao. Căn cứ Luật đất đai 2013:

“Điều 103. Xác định diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao

1. Đất vườn, ao của hộ gia đình, cá nhân được xác định là đất ở phải trong cùng một thửa đất đang có nhà ở.

2. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

Trường hợp trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này chưa xác định rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận không phải nộp tiền sử dụng đất được xác định bằng không quá 05 lần hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

3. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

4. Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định như sau:

a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện, tập quán tại địa phương quy định hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình phù hợp với tập quán ở địa phương theo số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình;

b) Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở tại địa phương;

c) Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở tại địa phương thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.

5. Đối với trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật này mà đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức quy định tại khoản 4 Điều này; trường hợp đất đã sử dụng ổn định kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 143 và khoản 4 Điều 144 của Luật này.

6. Phần diện tích đất vườn, ao còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 của Điều này thì được xác định sử dụng vào mục đích hiện trạng đang sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này.

7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

Dựa vào việc xác định các loại diện tích đất này, nếu đất vườn ao không được coi là đất ở. Thì nhà nước sẽ bồi thường cho gia đình bạn 2 giá đất khác nhau, đó là giá đất ở và giá đất nông nghiệp.

Việc bồi thường với mức giá như thế nào sẽ căn cứ vào bảng giá đất của UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành 5 năm một lần. Bạn có thể tìm quyết định về giá đất trên địa bàn tỉnh trên webide của UBND tỉnh. Ngoài ra, khi ban hành bảng giá đất này thì UBND tỉnh Ninh Thuận sẽ phải căn cứ theo khung giá đất Chính Phủ ban hành. Để biết về khung giá đất hiện nay của Nhà Nước, bạn có thể tham khảo 2 văn bản sau đây:

+ Nghị định số 44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất

+ Nghị định số 104/2014/NĐ-CP quy định về khung giá đất.

Trân trọng cám ơn!

>> Xem thêm:  Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất ? Xử lý tranh chấp quyền sở hữu nhà ở ?

5. Chính sách hỗ trợ đền bù đất đai khi bị thu hồi đất?

Kính chào văn phòng luật sư Minh Khuê. Tôi đã đọc câu hỏi và câu trả lời trên của các Anh, chị. Nhân đây cho tôi hỏi là tại quê tôi. Nhà nước thu hồi đất để làm khu công nghiệp. Thu hồi năm 2005.

Và bồi thường cho người dân là 6 triệu đ/ sào (360 m2). Mức bồi thường trên là bồi thường hoa màu tính từ năm 2005 đến 2013. Quê tôi đất lúa cấy 2 vụ. Nhưng bây giờ là đất 50 năm. Cho tôi hỏi là người dân nghèo quê tôi có được hộ trợ đền bù tiếp tính từ năm 2013 trở đi nữa không? Tôi rất mong đợi câu trả lời từ văn phòng?

Kính chúc các anh chị trong văn phòng mạnh khỏe. Trân trọng cảm ơn Anh, Chị.

Người gửi: D.C

"Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất."

Như vậy, khi Nhà nước thu hồi đất để làm khu công nghiệp, UBND nơi bạn sinh sống phải bồi thường bằng việc giao đất có mục đích sử dụng cho người bị thu hồi đất. Nếu không có đất để bồi thường thì UBND phải bồi thường bằng tiền. Mức tiền bồi thường được tính trên căn cứ là giá đất nông nghiệp do UBND tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

Khi thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì phải bồi thường theo quy định tại Khoản 1 Điều 90 Luật Đất đai năm 2013:

"Điều 90. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;

b) Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;

c) Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;

d) Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng."

Ngoài ra, bên cạnh việc bồi thường bằng tiền khi thu hồi đất, Nhà nước còn có chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp căn cứ vào Khoản 1 Điều 20 Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất:

"Điều 20. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp

1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 19 của Nghị định này (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định sau đây:

a) Hỗ trợ bằng tiền không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương;

b) Mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ điều kiện thực tế của địa phương."

Có thể thấy, khi thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, Nhà nước vẫn quan tâm đến quyền lợi người sử dụng đất khi bị thu hồi đất bằng cách đề ra những quy định cụ thể nhằm hỗ trợ tối đa cho người bị thu hồi đất đảm bảo lợi ích của họ. Chính vì thế, trong trường hợp của bạn, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định bồi thường cho người dân là 6 triệu đ/ sào (360 m2). Mức bồi thường trên là bồi thường hoa màu tính từ năm 2005 đến 2013. Như vậy, bên cạnh mức bồi thường về hoa màu này, gia đình bạn và những gia đình có liên quan khác sẽ được bồi thường tiền đất nói chung và được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi việc làm và tìm kiếm nghề. Đây là mức bồi thường thỏa đáng cho người bị thu hồi đất. Việc được bồi thường tiếp từ năm 2013 trở đi là điều không thể xảy ra vì Nhà nước đã cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ra quyết định này nhằm đảm bảo lợi ích tối đa cho người bị thu hồi.

Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi vào giờ hành chính ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất