1. Di dân là gì ?

Di dân là dời, chuyển dân cư từ nơi này đến lập nghiệp tại nơi khác, từ nông thôn ra thành thị, lạ 4Q) bùi qua vùng khác và cả trong trường hợp tử nước n4y qua nước khác (gọi là di dân quốc tế) nhằm mục đích phân bố hợp lí lao động, mật độ dân cư, khai thác tiềm năng kinh tế, bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia. Di dân là khái niệm được các nhà nghiên cứu định nghĩa không thống nhất. Có nhà nghiên cứu coi đó là sự “thay đổi nơi cư trú cố định” (Lee); có nhà nghiên cứu lại coi “sự thoát ly/rời tách khỏi cộng đồng sống” là nội dung chính trong nội hàm khái niệm di cư (Mangalam và Morgan). Có nhà nghiên cứu cho rằng “giá trị hệ thống dựa trên đó con người/cộng đồng người lựa chọn nơi cư trú” là tiêu chí chủ yếu nhận dạng quá trình di dân (Paul Shaw). Tổng hợp lại, di cư có thể hiểu là sự chuyển dịch của con người từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ kháctrong thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn. Nói cách khác, di dân là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập, hoặc thiết lập nơi cư trú mớivào một đơn vị hành chính - địa lý trong một thời gian nhất định. Di dân có thể liên quan đến sự di chuyển của một hay cá nhân, một gia đình, thậm chí cả một cộng đồng.

Di dân (sử dụng như tính từ chỉ sự di dân hoặc người di dân, nên có thêm từ loại ví dụ như người di dân, việc di dân để làm rõ nghĩa, số nhiều mặc định để chỉ người di dân, những di dân) là sự thay đổi chỗ ở của các cá thể hay các nhóm người để tìm chỗ ở tốt hơn, phù hợp hơn nơi ở cũ để định cư. Ở các loài vật, như chim, cũng có sự di cư hàng năm.

Cùng với khái niệm “di dân” có một số khái niệm liên quan như “người di dân”, “di dân gộp”, “di dân ròng”, “nơi nhập cư”, “nơi xuất cư”, “di cư chênh lệch”… “Người di dân” là người trong một thời gian nhất định, ít nhất là một lần thay đổi nơi cư trú của mình từ địa bàn này sang địa bàn khác, từ khu vực lãnh thổ này sang khu vực lãnh thổ khác. Di dân gộp” là tổng cộng số người cùng đến và đi trên cùng một vùng, là chỉ số đo lường toàn bộ dân số đến và đi trong một cộng đồng dân cư trên cùng một địa bàn sống. “Di dân ròng” là khái niệm chỉ sự chênh lệch giữa quy mô dân cư di chuyển đến và quy mô dân cư di chuyển đi – một quá trình là kết quả trực tiếp của sự đồng thời tiếp nhận hoặc đánh mất đi một số lượng dân cư nhất định trên một địa bàn cụ thể do sự chuyển dịch nơi cư trú của người dân. “Nơi nhập cư” là thuật ngữ chỉ địa bàn mà người di cư tìm đến với mục đích xác lập nơi cư trú mới. “Xuất cư” là sự dịch chuyển/rời bỏ nơi cư trú của người di cư để xác lập địa bàn cư trú mới. “Di cư chênh lệch” chỉ khoảng cách giữa các nhóm di cư khác nhau về yếu tố nhân khẩu, hoàn cảnh xã hội, yếu tố văn hoá, kinh tế… Điều đó có nghĩa là đối với những luồng di cư khác nhau sẽ có sự khác nhau trong cơ cấu thành phần, trong đặc điểm nhận diện, trong tính chất dịch chuyển.

Những cá nhân tham gia vào việc di chuyển chỗ ở là dân di cư. Trong chiến tranh hay khi có thiên tai, việc thay đổi chỗ ở đến nơi an toàn hơn còn gọi là tản cư và người dân di chuyển kiểu này còn được gọi là dân tản cư; việc thay đổi chỗ ở này là tạm thời, khi hết chiến tranh hoặc thiên tai đã qua thì thường họ lại trở về chỗ ở cũ. Người di cư trong trường hợp phải chạy trốn ra một xứ khác để thoát cảnh hiểm nguy, ngược đãi, hoặc bắt bớ bởi một quyền lực ở chốn cư ngụ còn được gọi là người tỵ nạn.

Việc chuyển chỗ ở hàng loạt một cách cấp thời dù tự nguyện hay do cưỡng bách để tránh các tai họa đột ngột do thiên tai như lũ lụt, động đất, sụt đất, bão; do con người như chiến tranh, thay đổi chế độ, do dịch bệnh, do ô nhiễm, do nguy cơ sập nhà từ nơi này sang nơi khác hay sang nước khác thì gọi là di tản, chạy nạn, chạy giặc; những người dân ra đi thì gọi là dân di tản.

Người di cư khi đã vượt biên giới sang nước khác thì gọi là người tỵ nạn, họ được Tổ chức Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tỵ nạn bảo vệ và giúp đỡ. Việc vi phạm Luật Nhân đạo được xem là nguyên nhân hàng đầu khiến người dân phải di tản.

 

2. Lý do dẫn đến hoạt động di dân ?

  • Kinh tế
  • Việc làm
  • Chiến tranh
  • Chính trị
  • Thiên tai

 

3. Di dân thường tiến hành ở những khu vực nào?

Viêc di dân thường được tiến hành ở những nơi phải giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình quốc phòng, an nính, kinh tế... Di dân cũng được áp dụng đối với lao động ở những vùng nông thôn có mức bình quân ruộng đất thấp và không có điều kiện phát triển kinh tế, lao động ở thành thị thiếu việc làm hoặc không có điều kiện để được sử dụng hợp lí. Nơi họ được bố trí đến lập nghiệp thường là những vùng có mật độ dân cư thấp, tiềm năng thiên nhiên chưa được khai thác hoặc vùng ven biển, hải đảo... Di dân có thể thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch nhưng cũng có thể là di dân tự phát, tự do.

 

4. Phân loại việc di dân

Dựa trên những cơ sở khác nhau, có thể phân chia di cư thành các loại hình khác nhau. Trên cơ sở thời gian, di dân bao gồm di cư lâu dài, di cư tạm thời và di cư mùa vụ.
Di cư lâu dài" chỉ người/nhóm người di cư dịch chuyển nơi cư trú trong một khoảng thời gian tương đối dài và có ý định ở lại nơi đến. “Di cư tạm thời” là sự xác lập nơi cư trú của người/nhóm người trong một khoảng thời gian ngắn trước khi quyết định có ở lại định cư tại nơi đó hay không. “Di cư mùa vụ” là hình thức di cư đặc biệt của di cư tạm thời, nó không chỉ ám chỉ khoảng thời gian di cư trùng với thời gian thu hoạch mùa vụ, mà còn chỉ khoảng thời gian di cư phục vụ hoạt động kinh tế mùa vụ (mùa xây dựng, mùa du lịch…), có nghĩa là người di cư dịch chuyển nơi cư trú theo mùa vụ để tìm kiếm việc làm, không có ý định ở lại lâu dài tại địa bàn nhập cư, sẽ quay trở lại nơi xuất cư nếu có nhu cầu lao động hoặc công việc gia đình.
Về hướng di dân, gồm có hai hình thức di dân: Di dân nội địa và di dân quốc tế - sự dịch chuyển nơi cư trú bên trong biên giới quốc gia hoặc vượt ra ngoài biên giới quốc gia tới quốc gia khác.
Về địa bàn đến, di dân có bốn loại hình: 1- Nông thôn – nông thôn; 2- Nông thôn – thành thị; 3- Thành thị - thành thị; 4- Thành thị - nông thôn.
Về pháp lý, có hai hình thức di dân: Có tổ chức và tự do; trong đó, di dân có tổ chức là loại hình di cư diễn ra trong khuôn khổ các chương trình của Nhà nước, theo đó, người di cư được nhận sự hỗ trợ ổn định đời sống từ Nhà nước, được Nhà nước định hướng địa bàn cư trú, công ăn, việc làm, còn di cư tự do bao gồm những người di cư không nằm trong chương trình di cư của Chính phủ, do người di cư tự quyết định từ việc lựa chọn địa bàn nhập cư, đến trang trải mọi phí tổn di chuyển, tìm việc làm…

Mọi trường hợp di dân theo kế hoạch của Nhà nước đều được hưởng chế độ trợ cấp và hỗ trợ của Nhà nước theo quy định cụ thể của pháp luật.

 

5. Những nguyên nhân cơ bản thúc đẩy di cư quốc tế

Trước hết, di cư được xác định là do sự khác biệt về thu nhập, sức hấp dẫn giữa các nền kinh tế cùng điều kiện sống. Lý thuyết Harris- Todaro (Harris-Torado Model) về mức thu nhập dự kiến cho rằng, những người tham gia vào thị trường lao động, cả trên thực tế lẫn trong tương lai, so sánh mức thu nhập dự kiến có được trong một khoảng thời gian dài nhất định ở khu vực thành thị (hay là cân nhắc chênh lệch giữa cái được và cái mất của việc di cư) với mức thu nhập trung bình đang có ở nông thôn, và sẽ di cư nếu như thu nhập dự kiến cao hơn thu nhập hiện có. Điều kiện kinh tế thấp kém cũng thường đi với những sự yếu kém về điều kiện của y tế và giáo dục. Trước tiên, hoạt động di cư có thể chỉ là chuyển dịch từ vùng kém phát triển sang những vùng phát triển hơn trong phạm vi lãnh thổ nhưng thông thường thì kết quả không mấy khả quan vì điều kiện kinh tế yếu kém của cả nền kinh tế và do đó dẫn tới hiện tượng di cư quốc tế. Do vậy, có thể nói điều kiện kinh tế thấp kém và đói nghèo thúc đẩy tâm lý muốn ra đi của con người.

Thứ hai, di cư được xác định là do sự chênh lệch nhu cầu về nguồn nhân lực trong thị trường lao động việc làm giữa các nước phát triển và đang phát triển. Nhà nghiên cứu Arthur Lewis đã đưa ra mô hình hai khu vực (Dual Sector Model) để xác định một hướng giải quyết mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển. Lý thuyết chuyển dịch lao động giữa hai khu vực cũng có thể được áp dụng nhằm giải thích sự chuyển dịch lao động từ những nước nông nghiệp sang các nước công nghiệp phát triển. Mô hình này chỉ ra rằng khi khu vực nông nghiệp, ở mức độ tồn tại, có dư thừa lao động và lao động dư thừa này dần dần được chuyển sang khu vực công nghiệp. Sự phát triển của khu vực công nghiệp quyết định quá trình tăng trưởng của nền kinh tế, phụ thuộc vào khả năng thu hút lao động dư thừa do khu vực nông nghiệp tạo ra. Lý thuyết thị trường lao động kép (Dual Labour Markets) của Michael Piore cho rằng di cư quốc tế bắt nguồn từ những nhu cầu về lao động thực chất (bên trong) của các nước công nghiệp phát triển. Theo lý thuyết này di cư quốc tế xuất hiện là bởi vì các nước phát triển có nhu cầu về lao động nhập cư lâu dài, thường xuyên và những nước này đặc trưng cho một xã hội công nghiệp phát triển cũng như nền kinh tế của nó. Đối với các nền kinh tế đang phát triển, khả năng tạo việc làm của nền kinh tế còn tương đối hạn chế.

Thứ ba, lý thuyết kinh tế học mới cho rằng, hoạt động di cư còn đi kèm với sự mong muốn phát triển hơn và đa dạng hoá khả năng kinh tế kinh tế. Lý thuyết này cho rằng sự khác biệt về mức lương không phải là điều kiện cần để hiện hiện tượng di cư quốc tế xảy ra; và quyết định di cư không phải do ý chí của chính các cá nhân mà phụ thuộc phần lớn vào quyết định của gia đình. Các hộ gia đình không chỉ muốn tối đa hóa thu nhập dự kiến mà còn muốn tối thiểu hóa những rủi ro và giảm bớt đi những gánh nặng do những đổ vỡ hay thất bại do thị trường địa phương mang lại bởi những thất bại này ảnh hưởng trực tiếp tới phúc lợi và cản trở sự phát triển kinh tế của chính các hộ gia đình.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)