1. Số khung máy xe bị đục có đăng ký sang tên được không ?

Kính chào luật sư công ty Luật Minh Khuê! Em có mua 01 chiếc xe cl50 có đăng ký biển kiểm soát. Sau đó em đem xe đi làm thủ tục sang tên đổi chủ thì công an phát hiện ra số máy bị đục, số khung thì vẫn đúng như trong đăng ký nên đã tạm giữ 01 tuần để điều tra. Em có hỏi: Xe em bao giờ được trả lại thì công an trả lời xe sẽ bi tịch thu và sung quỹ của nhà nước.
Vì xe cl50 là thuộc dòng xe cổ nên máy có thể bị hư nên người ta đã thay máy khác. Xe em đăng ký lần đầu năm 1979, đăng ký lại năm 2015. Thưa luật sư cho em hỏi: Xe em bị tịch thu sung công quỹ có đúng theo quy định của pháp luật không ạ? Nếu công an điều tra không phải là xe trộm cắp thì xe của em có được đục lại số máy và làm thủ tục đăng ký và trả lại xe cho em không? (Nếu bị tịch thu thì 2,3 năm sau người ta mới phát mại, xe để giữa trời 2,3 năm thì cũng hư hỏng mất nên em rất muốn lấy xe ra được sớm ?
Nhờ luật sư tư vấn cho em sớm. Em chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Thứ nhất, về việc Công an tịch thu xe của bạn là đúng theo quy định của pháp luật. Vì việc thay đổi số khung, số máy của xe sẽ gây khó khăn trong việc quản lý phương tiện của cơ quan có thẩm quyền và quan trọng hơn việc thay đổi này có thể nhằm mục địch hợp pháp hóa tài sản phi pháp. Căn cứ theo khoản 4 điều 6 Thông tư số 15/2014/TT-BCA quy định về đăng kí xe quy đinh:

"4. Nghiêm cấm mọi hành vi giả mạo hồ sơ, đục xóa số máy, số khung để đăng ký xe".Thêm vào đó, việc tịch thu này cũng phục vụ cho quá trình giám định xe của bạn."

Nếu kết quả giám định chiếc xe là tài sản bất chính, chiếm đoạt bất hợp pháp, tài sản trộm cắp, cướp giật, bị đục sửa số khung, số máy nhằm hợp pháp hóa tài sản hoặc có dấu hiệu tội phạm thì vụ việc sẽ bị khởi tố hình sự.

Nếu giám định việc thay đổi đó là do chủ xe thực hiện (chủ sở hữu hợp pháp) vì mục đích nào đó, không có dấu hiệu tội phạm thì sẽ bị xử lý theo thủ tục hành chính.

Căn cứ theo khoản 4 Điều 30 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt:

"Điều 30. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ

4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Tự ý cắt, hàn, đục lại số khung, số máy;

b) Tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe;

c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước, đặc tính của xe;

d) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe;

đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng).

Bạn cần phải có hợp đồng mua bán xe,cơ quan chức năng sẽ xác định chiếc xe này là của ai? hình thức chuyển nhượng như thế nào?

Nếu hợp đồng mua xe ghi rõ số máy đã bị thay đổi trước khi mua hoặc bạn thực sự không biết về việc thay đổi số máy trước khi mua thì trách nhiệm sẽ thuộc về chủ cũ. Căn cứ để bảo vệ quyền lợi của bạn được quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự 2015 :

"Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Thứ hai, về việc đăng ký xe

Căn cứ theo khoản 4 Điều 22 Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định:

"Điều 22. Các trường hợp liên quan đến số máy, số khung của xe

4. Xe có quyết định tịch thu hoặc có quyết định xử lý vật chứng mà cơ quan giám định kết luận là xe có số máy, số khung bị đục, bị tẩy xóa hoặc không xác định được số khung, số máy nguyên thủy thì cho đóng lại số theo số của biển số xe."

Như vậy, nếu công an xác định việc mua bán xe của bạn hợp pháp, số máy xe bị đục không có dấu hiệu tội phạm thì bạn có thể được "đóng lại số theo số của biển số xe".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Sang tên xe có cần đổi biển số xe không ? Thủ tục đăng ký xe

2. Thủ tục sang tên, đổi chủ khi mua xe máy cũ cùng tỉnh và khác tỉnh như thế nào ?

Luật Minh Khuê giải đáp các câu hỏi của khách hàng liên quan đến quy định về trình tự, thủ tục sang tên xe máy cũ

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại chương II Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe, thủ tục đăng ký sang tên xe máy được thực hiện như sau:

* Đăng ký sang tên đổi chủ xe máy cùng tỉnh, thành phố:

Hồ sơ gồm:

- Giấy khai đăng ký xe, chủ xe phải tự khai theo đúng mẫu quy định (mẫu số 02 kèm theo Thông tư 15/2014/TT-BCA)

- Giấy chứng nhận đăng ký xe

- Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe

- Chứng từ lệ phí trước bạ. Khi đăng ký sang tên thì giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số thì cho đổi sang biển loại 4 số cùng loại biển) và cấp lại giấy đăng ký xe theo tên của chủ xe mới.

Chú ý: Đăng ký sang tên thì giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số, 4 số hoặc khác hệ biển thì nộp lại biển số để đổi sang biển 5 số theo quy định) và cấp giấy chứng nhận đăng ký xe cho chủ xe mới.

* Xe sang tên xe máy đi ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác:

Tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe đến cơ quan đăng ký xe ghi trong giấy chứng nhận đăng ký xe để làm thủ tục, không phải đưa xe đến kiểm tra nhưng phải xuất trình giấy tờ quy định tại Điều 9 Thông tư này và nộp hồ sơ gồm:

- Hai giấy khai sang tên, di chuyển xe (mẫu số 04 kèm theo Thông tư 15/2014/TT-BCA)

- Giấy chứng nhận đăng ký xe

- Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe.

* Đăng ký xe từ tỉnh khác chuyển đến:

Chủ xe phải xuất trình giấy tờ quy định tại Điều 9 Thông tư 15/2014/TT-BCA và nộp hồ sơ gồm:

- Giấy khai đăng ký xe (mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này).

- Chứng từ lệ phí trước bạ theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Thông tư này.

- Giấy khai sang tên, di chuyển xe (mẫu số 04 ban hành kèm theo Thông tư này) và phiếu sang tên di chuyển kèm theo chứng từ chuyển quyền sở hữu xe quy định tại khoản 1 Điều 10 Thông tư này.

- Hồ sơ gốc của xe theo quy định.

* Cơ quan đăng ký xe:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư 15/2014/TT_BCA, Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là Công an cấp huyện) đăng ký, cấp biển số xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện và các loại xe có kết cấu tương tự xe nêu trên của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước có trụ sở hoặc cư trú tại địa phương mình.

* Mức thu lệ phí đăng ký xe và biển số xe máy:

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 127/2013/TT-BTC quy định về chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy đăng ký và phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (Thông tư 53/2015/TT-BTC sửa đổi bổ sung Thông tư 127/2013/TT-BTC)

- Trị giá từ 15 triệu đồng trở xuống, mức thu lệ phí ở khu vực I là từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng, ở khu vực II là 200.000 đồng, ở khu vực III là 50.000 đồng.

- Trị giá từ trên 15 triệu đồng đến 40 triệu đồng, mức thu lệ phí ở khu vực I là 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng, ở khu vực II là 400.000 đồng, ở khu vực III là 50.000 đồng.

- Trị giá trên 40 triệu đồng, mức thu lệ phí ở khu vực I là 2 triệu đến 4 triệu đồng, ở khu vực II Là 800.000 đồng, ở khu vực III là 50.000 đồng.

Riêng xe máy 3 bánh chuyên dùng cho người tàn tật thì mức thu lệ phí đăng ký xe là 50.000 đồng.

Trường hợp cấp giấy đăng ký và biển số tạm thời thì mức thu lệ phí đăng ký là 50.000 đồng.

Lưu ý:

Khu vực I gồm thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

Khu vực II gồm các thành phố trực thuộc trung ương (trừ thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), các thành phố trực thuộc tỉnh và các thị xã

Khu vực III gồm các khu vực khác ngoài khu vực I và khu vực II nêu trên.

Thưa luật sư, xin hỏi: Vợ chồng em hộ khẩu ở Tiền Giang, giờ có việc nên chuyển về Hà Nội sống. Em muốn mua xe máy cũ tại Hà Nội để sử dụng, xe biển số Hà Nội nên em không cần đổi biển chỉ cần sang giấy tờ xe qua tên em là được, nhưng em không biết như thế có được ko hay em phải đăng ký giấy tờ xe đó ở tỉnh Tiền Giang?

Trả lời: Theo quy định về cơ quan đăng ký xe đã trình bày ở trên thì việc đăng ký sang tên xe máy của bạn được thực hiện tại nơi cư trú. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú, nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Do đó, nếu vợ chồng bạn có hộ khẩu thường trú tại Tiền Giang nhưng đã đăng ký tạm trú tại Hà Nội thì có thể làm thủ tục đăng ký giấy tờ xe tại Hà Nội.

Xin chào luật Minh Khuê, tôi muốn hỏi: tôi mua 1 xe máy cũ trong tháng 2-2015, chủ xe có hộ khẩu hà nội 2, tôi cũng có hộ khẩu ở hà nội 2, nhưng khác huyện, biển số xe là biển 5 số. Vậy tôi phải cần những thủ tục gì để sang tên đổi chủ và đăng ký mới kèm biển số mới? Tôi có thể đăng ký biển số mới hay không?

Trả lời: Trong trường hợp này, bạn thực hiện thủ tục đăng ký sang tên xe máy theo thủ tục đăng ký sang tên đổi chủ xe máy cùng tỉnh, thành phố như đã trình bày ở trên. Theo quy định tại Thông tư 15/2014/TT-BCA, khi thực hiện thủ tục đăng ký sang tên thì giữ nguyên biển số cũ (trừ biển loại 3 số, 4 số hoặc khác hệ biển thì nộp lại biển số để đổi sang biển 5 số theo quy định) và cấp giấy chứng nhận đăng ký xe cho chủ xe mới. Do đó, nếu biển số xe đã là biển 5 số thì khi đăng ký sang tên xe sẽ không được đổi biển số xe mới.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Quy định về cấp đổi biển số xe ? Rút hồ sơ gốc khi đổi biển số xe

3. Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán xe

Ngày 24-3-2011, ông T.K.N. (ngụ quận 8, TP.HCM) đi xe gắn máy hiệu Honda SHi125 tới nhà hàng Kichi Kichi tại khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, quận 7 ăn tối cùng gia đình. Nhân viên bảo vệ nhận giữ xe và đưa thẻ, thế mà chỉ khoảng một giờ sau, khi ông ra lấy xe thì được thông báo chiếc xe đã không còn trong bãi.
Khách hàng gửi xe bị mất, được bồi thường nhưng lại bị buộc giao giấy tờ xe và ký hợp đồng bán chiếc xe (đã mất) cho bên đã bồi thường. Tình huống này đang diễn ra, không chỉ một trường hợp.

Bán… cà vẹt xe

Lỗi mất xe đã được xác định thuộc về công ty bảo vệ. Sau nhiều lần thương lượng, cuối tháng 5-2011 chủ nhà hàng đã đồng ý bồi thường cho ông N. nhưng chỉ theo số tiền ghi trên hóa đơn mua xe. Chiếc xe SHi125 ông N. mua giá khoảng 160 triệu đồng chỉ mới hơn một tháng trước. Tuy nhiên, do cửa hàng bán xe chỉ xuất hóa đơn giá 110 triệu đồng nên ông N. chỉ được nhà hàng bồi thường 117 triệu đồng (tính cả biên lai thuế và phí đăng ký biển số).

Ngoài ra, nhà hàng yêu cầu ông N. phải giao giấy đăng ký xe (cà vẹt), đồng thời làm hợp đồng bán chiếc xe trên cho nhà hàng. Đơn vị này lý giải rằng do đã nhận bồi thường nên ông N. đương nhiên không còn quyền sở hữu đối với chiếc xe đã mất, mà quyền sở hữu phải thuộc về họ. Ông N. không đồng ý vì cho rằng giá tiền ông nhận bồi thường thực tế thấp hơn nhiều so với giá mua xe. Nếu ông làm giấy bán xe thì chủ nhà hàng sẽ được quyền sở hữu xe với giá “mua” xe rất rẻ. Ông N. thắc mắc: “Ngộ nhỡ có tình trạng bên giữ xe cố tình dàn cảnh mất xe, bỏ khoản tiền bồi thường thấp hơn giá trị thực tế của chiếc xe để rồi được sở hữu xe một cách hợp pháp bằng hợp đồng mua bán thì sao?”.

Chính vì vậy ông N. không làm giấy bán xe. Ông chỉ đồng ý giao giấy tờ xe cho nhà hàng và hai bên ký biên bản thỏa thuận nếu sau này tìm lại được chiếc xe thì ông N. sẽ được quyền nhận lại xe, đồng thời trả lại 117 triệu đồng cho nhà hàng.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Hợp đồng vô hiệu

Theo luật sư Võ Xuân Trung – đoàn luật sư TP.HCM, băn khoăn của ông T.K.N. là một vấn đề pháp lý cần được lưu tâm. Luật sư Trung cho biết việc chủ nhà hàng (đơn vị giữ xe nói chung) đưa ra điều kiện người nhận bồi thường phải viết giấy bán xe là không đúng pháp luật. Theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật công chứng, đối tượng mua bán phải được xác định rõ và là vật có thật. Trong trường hợp này chiếc xe mua bán trên thực tế đã bị mất, tài sản giao dịch không có thật nên hợp đồng công chứng nếu có ký cũng là vô hiệu.

Trao đổi về vấn đề này, một số công chứng viên thừa nhận nếu các bên mua bán không nói thì công chứng viên không thể biết được chiếc xe trên thực tế có còn hay không. Chuyện kiểm chứng giá trị tài sản là trách nhiệm của các bên mua bán. Theo các công chứng viên, có thể có không ít hợp đồng mua bán xe “ảo” kiểu này đã được chứng thực. Đây là một vấn đề pháp luật còn bỏ ngỏ. Từng có cuộc tranh luận chưa có hồi kết về việc có hay không trách nhiệm của công chứng viên trong việc phải đi kiểm tra thực tế căn nhà (nếu mua bán nhà đất) hay bắt khách hàng phải đem xe đến cơ quan công chứng thì mới được chứng hợp đồng.

Một vấn đề đặt ra là trong trường hợp cơ quan chức năng tìm được chiếc xe bị mất cắp thì người chủ sở hữu xe hay người đã đứng ra bồi thường xe sẽ được nhận lại tài sản? Theo luật sư Nguyễn Minh Thuận – đoàn luật sư TP.HCM, Bộ luật dân sự quy định đối với các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì thời điểm chuyển quyền sở hữu chỉ được thực hiện sau khi bên mua hoàn tất thủ tục đăng ký giấy tờ sở hữu.

Chính vì vậy, dù người bỏ tiền bồi thường có được khách hàng giao giữ cà vẹt xe thì khi cơ quan chức năng tìm được xe bị mất cắp, khách hàng vẫn được xác định là người chủ hợp pháp của chiếc xe. Vì thế về nguyên tắc, người chủ sở hữu trên cà vẹt xe có quyền được nhận lại tài sản.

Để hóa giải vấn đề này, tránh thiệt thòi cho bên bồi thường mất xe, theo luật sư Thuận, có thể lập một văn bản thỏa thuận về bồi thường. Nội dung của thỏa thuận thể hiện rõ bên giữ xe bồi thường cho chủ xe số tiền bao nhiêu, khi chiếc xe tìm lại được thì chủ sở hữu sẽ phải giao chiếc xe và làm thủ tục sang tên xe cho bên bồi thường. Nếu tìm lại được xe mà khách hàng không ký giấy bán xe như thỏa thuận thì bên bồi thường có quyền căn cứ vào thỏa thuận này để yêu cầu tòa án giải quyết.

Mất xe phải đền xe

Người nhận giữ xe không thể cho rằng chỉ bồi thường bằng số tiền đã ghi trong hóa đơn mua bán xe của khách hàng, vì điều này không phù hợp với nguyên tắc bồi thường thiệt hại (làm mất xe phải đền xe hoặc số tiền tương đương chiếc xe bị mất). Bởi lẽ hóa đơn bán xe đôi khi không phản ánh đúng giá trị thật sự của chiếc xe bị mất, do một số cửa hàng bán xe không ghi giá tiền mua bán thật sự, ngoài ra còn do giá xe lên xuống theo thị trường.

Việc người đã bồi thường đề nghị làm hợp đồng mua bán xe, theo tôi, là không đúng quy định của pháp luật. Hơn nữa, việc đăng ký sang tên xe luôn đòi hỏi việc kiểm tra xe thực tế của cơ quan đăng ký xe, khi không có xe tại cơ quan đăng ký thì không thể sang tên giấy chứng nhận.

Nhằm đảm bảo quyền lợi cho người đã bồi thường, theo tôi, hai bên nên làm thỏa thuận, trong đó ghi nhận nội dung “nếu sau này xe bị mất tìm lại được thì sẽ thuộc sở hữu của người đã bồi thường”. Văn bản này có thể yêu cầu công chứng chứng nhận.

Luật sư HUỲNH VĂN NÔNG

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Dịch vụ soạn thảo và công chứng hợp đồng

>> Xem thêm:  Trình tự giải quyết tai nạn, va chạm giao thông được thực hiện thế nào ?

4. Giấy tờ cần thiết khi bán xe máy đăng ký tên công ty

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có một chiếc xe máy đăng ký tên công ty của gia đình. Do không còn nhu cầu sử dụng nên muốn bán. Cho tôi hỏi cần những giấy tờ gì khi bán xe? Hiện tôi chỉ còn giữ đăng ký của xe ? Cảm ơn

Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp chiếc xe máy đăng ký tên công ty của gia đình bạn.

Căn cứ tại khoản 1 Điều 10 Thông tư 15/2014/TT-BCA :

Điều 10. Giấy tờ của xe

1. Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, gồm một trong các giấy tờ sau đây:

a) Quyết định bán, cho, tặng hoặc hợp đồng mua bán theo quy định của pháp luật.

b) Văn bản thừa kế theo quy định của pháp luật.

c) Hóa đơn bán hàng theo quy định của Bộ Tài chính.

d) Văn bản của cấp có thẩm quyền đồng ý thanh lý xe theo quy định (đối với xe Công an); của Bộ Tổng tham mưu (đối với xe Quân đội).

đ) Văn bản đồng ý cho bán xe của Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây viết gọn là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị doanh nghiệp kèm theo hợp đồng mua bán và bản kê khai bàn giao tài sản đối với xe là tài sản của doanh nghiệp nhà nước được giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê.

e) Quyết định phân bổ, điều động xe của Bộ Công an (xe được trang cấp) hoặc chứng từ mua bán (xe do các cơ quan, đơn vị tự mua sắm) đối với xe máy chuyên dùng phục vụ mục đích an ninh của Công an nhân dân.

g) Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực.

Trường hợp chủ xe là cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, Quân đội nhân dân hoặc cá nhân nước ngoài làm việc trong cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà đăng ký xe theo địa chỉ của cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác thì phải có xác nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị công tác.

Về việc mua bán xe, thì không có quy định bắt buộc về những loại giấy tờ phải có khi đăng ký mà điều này tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên khi tham gia quan hệ giao dịch này, người mua sẽ tùy thuộc vào nhu cầu của mình mà yêu cầu những loại giấy tờ cần thiết, người bán sẽ cung cấp theo nhu cầu của người mua, hai bên thỏa thuận và kí kết hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, do tài sản là chiếc xe máy ở đây là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu mà chiếc xe này lại đứng tên công ty của bạn, nên quyền định đoạt thuộc phải thuộc về công ty, trước khi muốn thực hiện việc mua bán, bạn cần phải có sự đồng ý của công ty hoặc phải có giấy ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền về việc mua bán xe máy. Cụ thể quy định tại Điều 581 Bộ luật dân sự 2005 về hợp đồng ủy quyền:

"Hợp đồng ủy quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Đồng thời khi tiến hành thủ tục mua bán xe thì bên bán bắt buộc phải thực hiện những thủ tục được quy định tại Điều 6 Thông tư 15/2014/TT-BCA như sau:

"1. Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về đăng ký xe; có hồ sơ xe theo quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của xe và hồ sơ đăng ký xe; đưa xe đến cơ quan đăng ký xe để kiểm tra và nộp lệ phí đăng ký, cấp biển số xe theo quy định.

Trường hợp chủ xe được cơ quan đăng ký xe trước đây giao quản lý một phần hồ sơ xe thì khi làm thủ tục cấp, đổi lại giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe; sang tên, di chuyển xe; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe phải nộp lại phần hồ sơ đó.

2. Ngay khi có quyết định điều chuyển, bán, cho, tặng xe, chủ xe phải thông báo bằng văn bản theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này đến cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe đó để theo dõi. Trường hợp chủ xe không thông báo thì tiếp tục phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về chiếc xe đó đến khi tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe.

3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục đăng ký sang tên, di chuyển xe.

4. Nghiêm cấm mọi hành vi giả mạo hồ sơ, đục xóa số máy, số khung để đăng ký xe."

Tức là trong thời hạn 30 ngày, bên mua phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục sang tên xe. Tùy vào từng trường hợp mà lại tiến hành thủ tục sang tên khác nhau, nếu việc mua bán xe cùng tỉnh thì tiến hành thủ tục theo quy định tại Điều 11 Thông tư 15/2014/TT-BCA , nếu khác tỉnh thì tiến hành theo thủ tục sang tên quy định tại Điều 12 Thông tư này. Vì vậy, cả bên mua và bên bán cần lưu ý thủ tục sang tên để tiến hành thỏa thuận các loại giấy tờ xe để tránh rủi ro, bạn có giấy chứng nhận đăng ký xe đã đủ điều kiện để thục hiện thủ tục này.

>> Xem thêm:  Độ tuổi được đứng tên trên giấy đăng ký xe ? Thủ tục cấp lại đăng ký xe

5. Tư vấn về việc uỷ quyền mua bán xe máy ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê! tôi có sự việc mong nhận được sự tư vấn như sau: Tôi ủy uyền cho 1 người A bán giúp một chiếc xe máy trị giá 20 triệu vì tôi bận khá nhiều việc không rảnh thời gian kiếm người mua. Tôi chỉ giao giấy đăng kí xe và làm giấy ủy quyền cho A nhưng không hề làm 1 tờ giấy nào về nhận tiền hoặc mua bán cho bên A ( cầm cố ).
Tôi cũng không nhận được số tiền gì từ bên A, không hứa sẽ cho bên A lợi nhuận gì . Sau vài tháng tôi hỏi Bên A đã kiếm người bán được chưa và A trả lời không, tôi có ý đòi lại giấy đăng kí xe đi bán cho người muốn mua xe nhưng Bên A không trả và nói để đâu mất giấy đăng kí xe rồi. Sau đó tôi đã làm lại giấy tờ và tôi đã bán được cho cửa hàng xe, tôi lại làm ủy quyền cho bên B, tôi ủy quyền lại cho B có sai pháp luật hay không ? Sau 1 thời gian Bên A lấy giấy đăng kí xe cũ của tôi đem ra công an báo rằng tôi đã cầm cố xe cho họ và không đóng tiền, đồng thời họ đòi xe lại tôi không trả .
Tuy nhiên tôi đã nói ở trên tôi không hề có vấn đề tiền bạc khi làm giấy ủy quyền cho A và tôi tiếp tục sử dụng xe một năm sau bên A mới đi thưa kiện. Trong trường hợp này tôi nên làm thế nào?
Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Người đại diện theo ủy quyền có các loại theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 :

- Đại diện theo ủy quyền của cá nhân:

"Điều 142. Đại diện theo uỷ quyền

1. Đại diện theo uỷ quyền là đại diện được xác lập theo sự uỷ quyền giữa người đại diện và người được đại diện.

2. Hình thức uỷ quyền do các bên thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản."

- Đại diện theo ủy quyền của pháp nhân:

"Điều 143. Người đại diện theo uỷ quyền

1. Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo uỷ quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện."

Phạm vi đại diện của người đại diện theo ủy quyền theo Khoản 2 Điều 144 BLDS 2005

- Thẩm quyền của người đại diện bị giới hạn bởi nội dung ghi trong hợp đồng ủy quyền hay giấy ủy quyền.

- Thẩm quyền đại diện tùy thuộc vào từng loại ủy quyền: ủy quyền một lần, ủy quyền riêng biệt hay ủy quyền chung. Ủy quyền một lần chỉ cho phép người đại diện thực hiện một lần duy nhất và sau đó việc ủy quyền chấm dứt luôn.

Nếu được sự đồng ý của người được đại diện thì người đại diện có thể ủy quyền cho người khác

Trường hợp của bạn ở đây theo như chúng tôi hiểu là uỷ quyền của cá nhân giữ bạn và A về việc uỷ quyền bán hộ xe máy và đây là uỷ quyền một lần, nếu như bán được xe thì việc uỷ quyền giữa bạn và A cũng theo đó mà chấm dứt. Theo như thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi thì giữa hai người chỉ xác lập về giao kết uỷ quyền không hề có chuyện cầm cố tài sản ở đây, cụ thể pháp luật quy định về cầm cố tài sản như sau:

"Điều 326. Cầm cố tài sản

Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Điều 327. Hình thức cầm cố tài sản

Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính."

Từ đây có thể nhận định rằng bạn giao giấy đăng ký xe chỉ mới mục đích uỷ quyền cho bên A bán hộ xe chứ không để đảm bảo thực hiện bất kỳ nghĩa vụ gì, việc này cũng không được lập thành văn bản hay hợp đồng mà giữ 2 người chỉ có giấy uỷ quyền nên bên A nói bạn cầm cố tài sản cho họ là vô căn cứ, bạn có thể đưa giấy uỷ quyền ra để chứng minh và bảo về quyền lợi của mình.

Về vấn đề bạn uỷ quyền lại cho B tức là huỷ bỏ việc uỷ quyền với bên A pháp luật quy định về trường hợp chấm dứt uỷ quyền theo khoản 2 Điều 147 BLDS 2005 như sau:

"2. Đại diện theo uỷ quyền của cá nhân chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

a) Thời hạn uỷ quyền đã hết hoặc công việc được uỷ quyền đã hoàn thành;

b) Người uỷ quyền huỷ bỏ việc uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền từ chối việc uỷ quyền;

c) Người uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

Khi chấm dứt đại diện theo uỷ quyền, người đại diện phải thanh toán xong các nghĩa vụ tài sản với người được đại diện hoặc với người thừa kế của người được đại diện."

Trong trường hợp của bạn, bên A khi nhận uỷ quyền đã nói làm mất giấy đăng ký xe của bạn và không tìm được người mua xe, sau đó bạn đã làm giấy tờ xe và tự mình thực hiện việc bán xe thì coi như công việc bạn uỷ quyền cho A đã bị huỷ bỏ vì công việc đã được hoàn thành, thì sau đó bạn tiến hành uỷ quyền cho bên B thì hoàn toàn không trái pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có giấy hẹn đăng ký xe có được tham gia giao thông không ? Xe không chính chủ có bị tịch thu ?