1. Chế độ sử dụng đất đối với các loại đất rừng

Luật Đất đai 2013 đã quy định về chế độ sử dụng đất cho từng loại đất rừng, bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, và đất rừng đặc dụng, tại các Điều 135, Điều 136 và Điều 137. Những quy định này nhằm đảm bảo bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời tạo điều kiện để người dân có thu nhập và phát triển kinh tế.

- Đối với đất rừng sản xuất: Nhà nước ủy quyền quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cho tổ chức có trách nhiệm trong quản lý rừng tự nhiên. Đối với rừng trồng, nhà nước có thể giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp theo hạn mức. Trong trường hợp vượt quá hạn mức, họ cần chuyển sang thuê đất. Nhà nước cũng có thể cho thuê đất rừng sản xuất cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, và doanh nghiệp nước ngoài để triển khai dự án trồng rừng.

- Đối với đất rừng phòng hộ: Nhà nước giao đất rừng phòng hộ cho tổ chức quản lý rừng phòng hộ để thực hiện quản lý, bảo vệ, tái sinh và trồng rừng theo quy hoạch, kế hoạch. Cộng đồng dân cư có thể nhận đất rừng phòng hộ để bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời sử dụng đất cho mục đích khác theo quy định của pháp luật.

- Đối với đất rừng đặc dụng: Nhà nước giao đất rừng đặc dụng cho tổ chức quản lý rừng đặc dụng để thực hiện quản lý và bảo vệ theo quy hoạch, kế hoạch. Cũng có quy định về thuê đất rừng đặc dụng trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và cho tổ chức kinh tế thuê đất rừng đặc dụng để kết hợp kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái - môi trường dưới tán rừng theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

2. Gần 3,2 triệu ha diện tích đất rừng do hộ, cá nhân quản lý 

Ngày 13/4/2021, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành Quyết định 1558/QĐ-BNN-TCLN công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2020.

Theo Quyết định nêu trên, tính đến ngày 31/12/2020, diện tích đất có rừng bao gồm cả rừng trồng chưa khép tán là 14.677.215ha, trong đó:

- Rừng tự nhiên: 10.279.185 ha.

- Rừng trồng: 4.398.030 ha.

Diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ toàn quốc là 13.919.557ha, tỷ lệ che phủ là 42,01%.

Diện tích rừng phân theo loại chủ quản lý

- Ban quản lý rừng đặc dụng: 2.183.809 ha;

- Ban quản lý rừng Phòng hộ: 3.023.864 ha;

- Tổ chức kinh tế: 1.720.913 ha;

- Lực lượng vũ trang: 188.291 ha;

- Tổ chức KH&CN, ĐT, GD: 237.274 ha;

- Hộ gia đình, cá nhân trong nước: 3.193.169 ha;

- Cộng đồng dân cư: 1.166.470 ha;

- Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài: 22.941 ha;

- UBND xã: 2.940.484 ha.

Ở những địa phương có diện tích rừng tự nhiên giảm trong năm 2020, cần tiến hành tổ chức rà soát và kiểm tra để làm rõ nguyên nhân của sự giảm diện tích và thực hiện các biện pháp phục hồi diện tích rừng bị giảm. Đồng thời, cần xem xét trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân liên quan theo quy định của pháp luật.

3. Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng

Nhằm khắc phục kịp thời những hạn chế và yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ, và phát triển rừng giai đoạn trước năm 2017, vào ngày 12/1/2017, Ban Bí thư Trung ương Đảng Khóa XII đã ra Chỉ thị số 13-CT/TW. Chỉ thị này được ban hành nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, và phát triển rừng theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Trong nội dung của Chỉ thị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã yêu cầu các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, và các đoàn thể nhân dân triệt để và thực hiện nghiêm túc, đồng thời đảm bảo hiệu quả trong việc thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp. Trong danh sách này, đặc biệt quan trọng là các nhiệm vụ và giải pháp liên quan đến công tác quản lý và sử dụng đất rừng như sau:

- Tổ chức rà soát và bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý, bảo vệ, và phát triển rừng nhằm khắc phục những sự chồng chéo, đảm bảo tính đồng bộ, hiệu quả và khả thi.

- Thực hiện rà soát, đánh giá, và kiểm soát chặt chẽ các quy hoạch, dự án phát triển kinh tế, xã hội có tác động tiêu cực đối với diện tích và chất lượng rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên và rừng phòng hộ. Áp dụng cơ chế quản lý và giám sát nghiêm túc đối với các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đặc biệt là trong lĩnh vực thủy điện, khai thác khoáng sản, xây dựng khu công nghiệp, và du lịch. Đánh giá lại kết quả thực hiện và hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các dự án cải tạo rừng tự nhiên và chuyển đổi rừng sang trồng cây cao su, sản xuất nông nghiệp.

- Thiết lập cơ chế đình chỉ và thu hồi đất đối với các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng có sai phạm hoặc có nguy cơ gây thiệt hại lớn về mặt rừng và môi trường sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và cuộc sống của cộng đồng. Xử lý nghiêm minh, công khai, và minh bạch đối với các tổ chức và cá nhân vi phạm, thiếu trách nhiệm trong công tác thẩm định, phê duyệt, và cấp phép đầu tư.

- Tăng cường tiến độ điều tra, đo đạc, xây dựng hồ sơ quản lý, phân định, và đánh mốc ranh giới của các loại rừng trên bản đồ và thực địa đến đơn vị hành chính cơ sở. Giải quyết dứt điểm tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất rừng trái pháp luật và hoàn thành việc giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, và cộng đồng.

- Thúc đẩy trồng rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển, ven sông, rừng đầu nguồn. Bảo vệ và quản lý nghiêm, kết hợp với việc tăng cường các biện pháp trồng mới, phục hồi, tái sinh rừng tự nhiên; áp dụng cơ chế quản lý và giám sát chặt chẽ cho việc chuyển đổi diện tích rừng phòng hộ tại các khu vực ít xung yếu sang rừng sản xuất.

4. Một số đề xuất hoàn thiện chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp

Mặc dù có những chuyển biến tích cực do pháp luật về Đất đai và Lâm nghiệp tạo ra trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nhưng vẫn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc, và bất cập trong cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng đất, rừng theo quy định hiện hành. Để khắc phục tình trạng này, đề xuất thực hiện rà soát, chỉnh sửa, bổ sung, và hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan theo các hướng sau:

- Đối với rừng sản xuất: Cần đặt ra rõ đối tượng được giao đất, cho thuê đất, và công nhận quyền sử dụng. Giao đất rừng sản xuất không thu tiền sử dụng đất, trong khi thuê đất rừng sản xuất để sản xuất lâm nghiệp. Quy định rõ quyền của cá nhân nhận đất từ Nhà nước mà không thu tiền sử dụng đất, và quy định thuê đất với việc trả tiền hàng năm đối với rừng sản xuất từ rừng tự nhiên. Cần xác định rõ việc sử dụng đất này phải kết hợp với mục đích khác đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, và cá nhân được Nhà nước cho thuê đất.

- Đối với đất rừng phòng hộ: Cần quy định đối tượng được giao đất rừng phòng hộ để quản lý rừng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Cần quy định rõ việc sử dụng đất này kết hợp với mục đích trồng cây hằng năm, cây dược liệu, chăn nuôi, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, giải trí, và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ bảo vệ và phát triển rừng, cũng như thực hiện nghĩa vụ tài chính.

- Đối với đất rừng đặc dụng: Cần quy định rõ các đối tượng được Nhà nước giao đất rừng đặc dụng để quản lý rừng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Cần quy định rõ việc lập dự án di dân, tái định cư, đặc biệt là di dân ra khỏi các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng. Cần quy định việc sử dụng đất này phải kết hợp với mục đích du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, giải trí, và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ bảo vệ và phát triển rừng, cũng như thực hiện nghĩa vụ tài chính.

- Đối với đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường: Cần xác định rõ trách nhiệm của các công ty nông, lâm nghiệp đang quản lý và sử dụng đất có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường. Cần quy định trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với diện tích đất này khi chúng được bàn giao cho địa phương và đối với diện tích đất mà tổ chức sử dụng đất đã giải thể.

Xem thêm: Quy định của pháp luật về giải pháp phát triển rừng

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Diện tích đất rừng do hộ, cá nhân quản lý gần 3,2 triệu ha mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!