- 1. Khái niệm chào bán chứng khoán ra công chúng
- 2. Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng
- 2.1. Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng
- 2.2. Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng
- 2.3. Điều kiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng
- 3. Đánh giá về chào bán chứng khoán ra công chúng ở Việt Nam
- 4. Chi phí phát hành chứng khoán ra công chúng là bao nhiêu?
1. Khái niệm chào bán chứng khoán ra công chúng
Theo quy định tại khoản 19 điều 4 Luật chứng khoán 2019 thì chào bán chứng khoán ra công chúng “là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây: Chào bán thông qua phương tiện thông tin đại chúng; Chào bán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; Chào bán cho các nhà đầu tư không xác định.” Qua đó có thể khái quát về chào bán chứng khoán ra công chúng là việc cho một số lượng lớn các nhà đầu tư (không kể các nhà đầu tư chuyên nghiệp) có thể sử dụng các phương thức quảng cáo, mời chào có tính chất rộng rãi ra công chúng khi chào bán.
Chào bán chứng khoán ra công chúng có một số đặc điểm cụ thể sau:
- Thứ nhất, chào bán chứng khoán ra công chúng được thực hiện trên quy mô lớn, thu hút số lượng lớn các nhà đầu tư bỏ vốn để mua chứng khoán được chào bán trong đợt chào bán, khối lượng chào bán lớn, sử dụng các phương pháp quảng cáo, mời chào rộng rãi.
- Thứ hai, việc chào bán chứng khoán ra công chúng chỉ được thực hiện sau khi tổ chức phát hành chứng khoán đã đăng ký chào bán chứng khoán với Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN).
- Thứ ba, chủ thể chào bán chứng khoán rất đa dạng có thể là Chính phủ, Chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và các quỹ đầu tư.
- Thứ tư, nhằm huy động vốn trung và dài hạn cho các chủ thể phát hành chứng khoán, là điều kiện quan trọng để tham gia niêm yết trên thị trường tập trung, nhằm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, nâng cao uy tín, quảng bá hình ảnh.
- Cuối cùng, chào bán chứng khoán ra công chúng phải đáp ứng các điều kiện và tuân thủ các quy định pháp luật.
Các chủ thể tham gia vào hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng bao gồm các chủ thể sau: Tổ chức phát hành, tổ chức trung gian, cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán và nhà đầu tư.
2. Điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng
2.1. Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng
Đối với những tổ chức muốn chào bán cổ phiếu ra công chúng cần thỏa mãn các điều kiện có liên quan đến vốn, kết quả kinh doanh và dự định huy động vốn cũng như kế hoạch sử dụng vốn huy động của doanh nghiệp:
Thứ nhất, tổ chức muốn chào bán cổ phiếu ra công chúng phải là tổ chức, doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính, thể hiện ở mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán, mà cụ thể mức vốn điều lệ tối thiểu mà doanh nghiệp phải thỏa mãn là 30 tỷ đồng tính theo giá trị trên sổ sách kế toán. Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã lớn mạnh cả về số lượng và năng lực tài chính, mặt khác, do chủng loại hàng hóa trên thị trường giao dịch chứng khoán cũng đã phong phú hơn trước, quy định về mức vốn điều lệ mà các doanh nghiệp phải thỏa mãn để được chào bán cổ phiếu ra công chúng lại được nâng lên. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có đủ về mặt tiềm lực tài chính thì mới có thể chào bán cổ phiếu trên thị trường cạnh tranh đầy khốc liệt. Ngoài ra, nếu công ty có tiềm lực tài chính vững vàng cũng chính là góp phần đảm bảo an toàn cho các nhà đầu tư khi mua cổ phần và đảm bảo cho thị trường chứng khoán có thêm một nguồn hàng hóa đảm bảo chất lượng.
Thứ hai, tổ chức có nhu cầu chào bán cổ phiếu ra công chúng phải là doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, nó thể hiện ở chỗ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó vào 2 năm liên tục liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán. So với quy định trước đây thì Luật chứng khoán 2019 đã thay đổi số năm hoạt động kinh doanh lên 2 năm (trước đây là 01 năm). Điều này thể hiện doanh nghiệp có nhu cầu chào bán cổ phiếu ra công chúng phải là doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, điều này sẽ góp phần đảm bảo rằng doanh nghiệp phát hành có khả năng đem lại thu nhập thỏa đáng cho các cổ đông tương lai. Chỉ khi căn cứ vào kết quả kinh doanh gần nhất mới có thể nhận định, đánh giá chính xác về khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp có mong muốn được tham gia chào bán cổ phiếu ra công chúng. Đây cũng là thước đo quan trọng và đơn giản dùng để đánh giá, xem xét liệu doanh nghiệp.
Thứ ba, tổ chức chào bán phải có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu được Đại hội đồng cổ đông thông qua. Về nguyên tắc, tất cả các công việc quan trọng của doanh nghiệp đều phải được Đại hội đồng cổ đông xem xét và biểu quyết tập thể để thông qua. Việc phát hành cổ phiếu ra công chúng chính là hành vi có thể làm thay đổi cơ cấu chủ sở hữu và làm cho doanh nghiệp này trở thành công ty đại chúng. Do đó, đây là một quyết định rất quan trọng nên cần phải được sự đồng ý và quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
Thứ tư, tối thiểu là 15% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành phải được bán cho ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn; trường hợp vốn điều lệ của tổ chức phát hành từ 1.000 tỷ đồng trở lên, tỷ lệ tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành. Ngoài ra, cổ đông lớn trước thời điểm chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng của tổ chức phát hành phải cam kết cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% vốn điều lệ của tổ chức phát hành tối thiểu là 1 năm kể từ ngày kết thúc đợt chào bán. Mục đích của điều kiện này là nhằm ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm của các cổ đông lớn với tổ chức phát hành thông qua việc yêu cầu cổ đông lớn phải cùng nhau nắm giữ một tỷ lệ vốn điều lệ của tổ chức phát hành trong một khoảng thời gian nhất định.
Bên cạnh những điều kiện trong tổ chức, doanh nghiệp muốn chào bán cổ phiếu ra công chúng phải đảm bảo tổ chức phát hành không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án về một trong các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà chưa được xóa án tích. Doanh nghiệp phải có công ty chứng khoán tư vấn hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng, trừ trường hợp tổ chức phát hành là công ty chứng khoán. Có cam kết và phải thực hiện niêm yết hoặc đăng ký giao dịch cổ phiếu trên hệ thống giao dịch chứng khoán sau khi kết thúc đợt chào bán, và tổ chức phát hành phải mở tài khoản phong tỏa nhận tiền mua cổ phiếu của đợt chào bán.
2.2. Điều kiện chào bán trái phiếu ra công chúng
Bên cạnh thỏa mãn các điều kiện về vốn điều lệ, về kết quả kinh doanh hay kế hoạch huy động cũng như sử dụng vốn huy động thì chào bán trái phiếu ra công chúng còn phải thỏa mãn thêm điều kiện là doanh nghiệp không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 1 năm và phải có cam kết thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với tư cách tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư và các điều kiện khác theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, khi công ty cổ phần chào bán trái phiếu ra công chúng phương án phát hành trái phiếu và phương án sử dụng vốn và trả nợ vốn huy động từ đợt chào bán chỉ cần nhận được sự chấp nhận của đại hội cổ đông. Việc chào bán trái phiếu ra công chúng không làm ảnh hưởng tới vị thế của cổ đông hiện hữu mà chỉ ảnh hưởng tới khả năng tài chính của công ty, do đó Hội đồng quản trị với tư cách là cơ quan quản lý công ty cổ phần sẽ thông qua những phương án trên.
Ngoài ra, khi phát hành trái phiếu ra công chúng cần thỏa mãn các điều kiện về việc cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác, cam kết và phải thực hiện niêm yết trái phiếu trên hệ thống giao dịch chứng khoán sau khi kết thúc đợt chào bán. Có công ty chứng khoán tư vấn hồ sơ đăng ký chào bán trái phiếu ra công chúng, có kết quả xếp hạng tín nhiệm đối với tổ chức phát hành trái phiếu theo quy định của Chính phủ về các trường hợp phải xếp hạng tín nhiệm và thời điểm áp dụng.
2.3. Điều kiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng
Khác với mục tiêu của chủ thể chào bán cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng, thì chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng không nhằm mục đích huy động vốn để phục vụ mục đích kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. mà chỉ nhằm mục đích tái đầu tư bằng vốn huy động được và lĩnh vực đầu tư chủ yếu của quỹ đầu tư chính là chứng khoán. Khi chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng cần thỏa mãn các điều kiện sau.
- Thứ nhất, chủ thể phải đăng ký chào bán lượng chứng chỉ quỹ với tổng giá trị chứng chỉ quỹ đăng ký chào bán tối thiểu là 50 tỷ đồng.
- Thứ hai, chủ thể chào bán phải có phương án phát hành và phương án đầu tư vốn thu được từ đợt chào bán chứng chỉ quỹ phù hợp với quy định của pháp luật.
- Thứ ba, việc chào bán phải được giám sát bởi ngân hàng giám sát, và chứng chỉ quỹ chào bán ra công chúng phải được niêm yết trên hệ thống giao dịch chứng khoán sau khi kết thúc đợt chào bán, trừ trường hợp chào bán chứng chỉ quỹ mở.
Những quy định này của Luật chứng khoán năm 2019 đã có những quy định nhằm đảm bảo chất lượng của những chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán lưu hành rộng rãi trên thị trường chứng khoán.
3. Đánh giá về chào bán chứng khoán ra công chúng ở Việt Nam
Hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng có nhiều ưu điểm so với các hình thức khác cụ thể như: Chứng khoán được chào bán ra công chúng được phép niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung điều này điều này đồng nghĩa với việc kêu gọi vốn đầu tư không chỉ ở phạm vi trong nước mà còn mở rộng ra nước ngoài, số lượng các nhà đầu tư chào bán càng lớn thì khả năng công ty bán hết số chứng khoán dự định cũng càng lớn, các nhà đầu tư có thể chuyển vốn cho công ty bất cứ lúc nào. Ngoài ra, việc niêm yết trên thị trường chứng khoán còn tạo ra một phương pháp quảng cáo hiệu quả, nhờ vậy tổ chức phát hành sẽ tốn ít chi phí và dễ dàng hơn trong việc huy động vốn. Ngoài ra, khách hàng và nhà cung ứng thường sẽ trở thành cổ đông nên tổ chức phát hành sẽ có lợi về việc mua nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm.
Chào bán chứng khoán ra công chúng làm tăng giá trị tài sản ròng, giúp tổ chức phát hành có được nguồn vốn lớn và có thể vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi hơn cũng như các điều khoản về tài sản cầm cố sẽ ít phức tạp hơn. Bên cạnh đó, tổ chức phát hành cũng có thể thu hút và duy trì đội ngũ nhân viên ưu tú, vì khi chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty bao giờ cũng dành một tỷ lệ chứng khoán nhất định để bán cho nhân viên của mình. Với quyền mua cổ phiếu nhân viên của công ty sẽ trở thành cổ đông và được hưởng lãi trên vốn thay vì thu nhập thông thường. Khi phát hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức phát hành sẽ có cơ hội để xây dựng một hệ thống quản lý chuyên nghiệp cũng như xây dựng được một chiến lược phát triển rõ ràng. Chất lượng và độ chính xác các bản báo cáo của tổ chức, vì các bản báo cáo này phải được lập theo các tiêu chuẩn chung do cơ quan quản lý quy định. Chính điều này làm cho việc đánh giá và so sánh kết quả hoạt động của công ty được thực hiện dễ dàng và chính xác hơn.
4. Chi phí phát hành chứng khoán ra công chúng là bao nhiêu?
Chi phí phát hành chứng khoán ra công chúng khá cao, thường chiếm khoảng 8-10% khoản vốn huy động, bao gồm các chi phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn pháp luật, chi phí in ấn, phí kiểm toán, chi phí niêm yết,…
Hàng năm, công ty cũng phải chịu thêm các khoản chi phí phụ như chi phí kiểm toán các báo cáo tài chính, chi phí cho việc chuẩn bị tài liệu nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và chi phí công bố thông tin định kỳ.
Trên đây là bài viết sưu tầm và tổng hợp về điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật Việt Nam. Mọi vướng mắc vui lòng liên hệ Luật Sư Tư Vấn Pháp Luật Miễn Phí Online 24/24: 1900.6162. Trân trọng./.