1. Điều kiện để di chúc có hiệu lực ?

Thưa luật sư, gia đình tôi được ông nội tôi để lại cho giấy thừa kế (như trong ảnh gửi kèm). Khi tôi đến làm thủ tục nhận thừa kế thì UBND xã nói giấy đó không có giá trị pháp lý. Luật sư cho tôi hỏi, tôi phải làm những gì để hợp pháp hóa được giấy thừa kế trên?
Tôi xin cảm ơn!

Điều kiện để di chúc có hiệu lực ?

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế, gọi:1900.6162

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 , di chúc được xem là hợp pháp khi đáp ứng các điều kiện sau đây:

"Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. "

Trong thư yêu cầu, bạn chưa nêu rõ cho chúng tôi di chúc của ông bạn được lập dưới hình thức nào vì thế, bạn cần đối chiếu di chúc của ông bạn với các điều kiện để di chúc hợp pháp như quy định trên. Nếu thỏa mãn các điều kiện theo quy định trên thì di chúc sẽ có hiệu lực pháp luật và di sản thừa kế sẽ được chia theo di chúc. Trong trường hợp di chúc không có hiệu lực pháp luật, di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005:

"Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản."

Việc chia di sản thừa kế theo pháp luật được quy định như sau:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Do đó, bạn cần kiểm tra lại hiệu lực của di chúc của ông bạn với các trường hợp mà Bộ luật Dân sự quy định như trên.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Con nuôi chưa đăng ký có được hưởng di sản thừa kế ? Cách chia thừa kế như thế nào ?

2. Tư vấn chia tài sản khi không có di chúc ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Ông an kết hôn với bà hoa năm 1994, có 2 người con là bình (sn. 1995) và nam (sn. 2000). Đến 2011 do có mâu thuẩn nên đã ly hôn với bà hoa. Sau đó ông kết hôn với bà lan có 1 con chung tên châu (sn. 2013). Đến 2018 ông bị tan nạn và chết không để lại di chúc. Biết tài sản ông an có 300 triệu và 1 căn trị giá 1tỷ đứng tên ông an và bà lan. Tài sản được chia như thế nào ?
Cảm ơn!

Không để lại di chúc thì chia tài sản như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

*Xác định di sản của ông An:

Theo quy định Điều 612 Bộ luật dân sự 2015:

"Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác."

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân người để lại tài sản cho người khác trước khi chết. Người lập di chúc có toàn quyền để chỉ định người thừa kế và phân định tài sản của mình mà không cần sự đồng ý của bất kỳ ai và không ai được phép ép buộc, đe dọa người lập di chúc.

Đồng thời, tại Điều 33 và Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung."

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng."

Ông An có 300 triệu đồng là tài sản riêng, đồng thời có tài sản chung với bà Lan, vợ hợp pháp của ông An, là một ngôi nhà trị giá 1 tỷ đồng. Vậy, di sản ông An để lại sau khi chết là: 300 triệu + (1 tỉ : 2)= 800 triệu đồng.

* Chia di sản

Vì ông An chết không để lại di chúc nên di sản của ông An được chia theo pháp luật, quy định tại Khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự 2015

"1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo đó, những người được hưởng thừa kế theo pháp luật theo hàng thừa kế thứ nhất của ông An là vợ hiện tại của ông tức bà Lan, hai người con chung với vợ trước là Bình và Nam và con chung của ông An vs bà Lan là Châu.

Bốn người sẽ được hưởng phần thừa kế bằng nhau là: bà Lan= Bình= Nam= Châu= 800 : 4 = 200 triệu đồng

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Đất đã tặng cho có được mang ra chia thừa kế không ? Thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất ?

3. Không để lại di chúc thì chia tài sản như thế nào ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc về việc phân chia di sản và các vấn đề liên quan:

Trả lời:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

"Điều 669. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

"Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực. "

Thưa luật sư, Ông PT sinh ra 2 người con là PD và PC. Năm 2007 PD cưới chị LH và sinh ra cháu PTD. Năm 2010 PD bị tai nạn giao thông chết, trước khi chết PD có lập di chúc để lại toàn bộ tài sản chia đều cho em trai PC và con gái PTD. Năm 2013 ông PT chết và không lập di chúc. Tính số tài sản mà mỗi người thừa kế hưởng được biết tài sản của PD để lại là 900tr, ông PT để lại 1tỉ tính luôn cả tiền được thừa kế.

=> + PD để lại di sản là 900 triệu cho PC và PTD vậy PC = PTD = 450 triệu.

Tuy nhiên lúc này có PT và LH là 2 người được thừa kế không phụ thuộc vào di chúc.

PT = LH = (900 : 4) x 2/3 = 150 triệu lấy từ di sản thưà kế của PC và PTD.

Vậy PC = PTD = 300 triệu, PT = LH = 150 triệu.

+ PT chết để lại di sản là 1 tỷ đã tính cả tiền thưà kế.

Lúc này PD đã chết nhưng có con là PTD là người thừa kế thế vị.

Vậy PC = PTD = 1 tỷ : 2 = 500 triệu

Vậy tổng cộng: PC = PTD = 800 triệu, LH = 150 triệu.

Thưa luật sư, Ông bà nội tôi có 5 người con (4 trai, 1 gái), bác gái đã đi lấy chồng, khi ông bà còn sống có mua đất cho bác cả ra ở riêng, mảnh đất ông bà ở là 1135m2, đến năm 1992 chia cho bác trai thứ 2 (315m2), phần đất còn lại cho bố tôi và bác thứ 3, sau năm 1994 ông bà mất và bác thứ 3 đồng ý cho lại đất cho bố mẹ tôi sử dụng. Năm 1998 làm sổ đỏ mảnh đất đó do mẹ tôi đứng tên. Năm 2014 bác thứ 3 mất và đến nay các con của bác có về kiện đòi lại mảnh đất hiện bố mẹ tôi đang sử dụng (820m2) để chia thành 2. Vậy mảnh đất nhà tôi ở có bị chia lại không, khi làm thủ tục sổ đỏ bà nội tôi còn sống và đồng ý cho mẹ tôi đứng tên trên sổ đỏ thì có sai phạm không?

Năm 1998 bác 3 đã sang tên sổ đỏ cho mẹ bạn, tại thời điểm này bác còn sống và hoàn toàn minh mẫn. Vậy đây là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Vậy mẹ bạn có thể sử dụng mảnh đất này ổn định, không phải chia lại cho các con của bác vì tại thời điểm bác 3 chết, bác không còn quyền sử dụng với mảnh đất này nên nó không phải là tài sản mà các con bác được thừa kế.

Thưa luật sư, Thứ nhất do ông bà đã mất Lúc trước có để lại di chúc như cũng đã 10 mấy năm vậy bây giờ có còn hiệu lực không Thứ hai nếu như đất sẽ được chia đều cho tất cả các người con vậy những người đã được chia rồi sẽ phải nhường ưu tiên những người chưa được chia trước đúng không ạ Thứ ba nếu như những người đã được chia rồi muốn nhập vô để chia lại thì phải nhập lại tài sản đã được chia trước đó có phải như vậy không ?

=> 1. Bộ luật dân sự quy định:

"Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế."

Vậy di chúc thì vẫn có hiệu lực nhưng nếu có ai muốn khởi kiện thì đã hết thời hiệu khởi kiện.

2. Quyền sử dụng đất được chia thừa kế sẽ được chia đều theo hàng, không phụ thuộc vào việc lúc ông bà còn sống đã chia đất cho ai rồi hay chưa.

3. Nếu như những người đã được chia rồi muốn nhập vô để chia lại thì phải nhập lại tài sản đã được chia trước đó phụ thuộc vào thỏa thuận của những người thừa kế.

Thưa luật sư, Anh chị em có mảnh đất do bố mẹ để lại nhưng không có di chúc. Anh trai tôi đã tự ý làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh trai tôi và chuyển nhượng cho người khác. Mảnh đất đó hiện nay đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang người khác (người đã mua). vậy chị em tôi có đòi lại được mảnh đất đó không? và chúng tôi phải gửi đơn đến đâu?

=> Trường hợp này bạn và chị bạn có thể đòi lại được phần đất mà mình xứng đáng được hưởng tuy nhiên bạn phải chắc chắn là vẫn trong thời hạn 10 năm kể từ ngày bố mẹ bạn mất thì bạn mới có thể đòi quyền thừa kế

Khi đó, bạn gửi đơn lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi mà anh trai bạn đang cư trú để yêu cầu giải quyết.

Thưa luật sư, Gia đình em gồm có em, hai chị gái, Ba -hiện đang cư ngụ ở nước ngoài, và người anh trai ở VN. Ba Mẹ em được thừa hưởng căn nhà từ Ông Bà Nôi (có giầy di chúc). Mẹ em đột ngột qua đởi. Theo tìm hiểu, em biết cả 5 người đều giữ quyền đồng thừa hưởng căn nhà ở VN do Nội em để lại. Xin cho em hỏi cách cho / tặng phần thừa hưởng mà em được cho Ba em để em không cần phải làm giấy uỷ quyền mỗi lần Ba em cần làm thủ tục liên quan đến căn nhà. Xin cho em biết thủ tục và qui trình.

=> Bạn và những người thừa kế còn lại làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà mình được thừa kế cho ba bạn hoặc tất cả làm giấy ủy quyền để ba bạn làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mảnh đất này 1 mình thì từ sau đó những giao dịch liê quan đến mảnh đất ba bạn có thể tự quyết định.

Thưa luật sư, Hiện tại cháu cùng gia dinh đang sinh sống cùng bà nội . Bà nội cháu có nhà và đứng tên trên giấy tờ bán nhà sau khi ông cháu mất . Bà cháu có 4 người con , 3 gái 1 trai là bố cháu hàng con thứ 3 . Bố cháu là người khuyết tật câm điếc từ nhỏ . Hộ khẩu gia đình cháu đứng tên bà là chủ hộ khẩu và có tên gia đình cháu trong sổ . Hiện giờ đã giao cho gia đình cháu. Sau này bà cháu mất không di chúc và nhà cháu liệu có bị tranh giành không . Nhà cháu không có sổ đỏ.

=> Hiện tại nhà bạn không có sổ đỏ nhưng theo sổ hộ khẩu thì có tên bà nội. Vậy có thể xét bà nội đã sinh sống lâu dài trên mảnh đất này và không có tranh chấp vì thế bà bạn cũng có quyền sở hữu 1 phần với căn nhà này. Vậy khi bà bạn mất không để lại di chúc thì những người cô còn lại có thể giành quyền thừa kế với phần giá trị căn nhà mà bà được hưởng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Những ai là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc ? Cách chia tài sản thừa kế

4. Quyền thừa kế quyền sử dụng đất khi không có di chúc ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Bố tôi có 2 người vợ. Sau khi vợ cả chết thì bố tôi lấy vợ 2, là mẹ của tôi. Bố tôi với bà vợ cả có 3 người con, 1 trai, 2 gái, với mẹ tôi thì có 4 người con, 2 trai 2 gái.

Sau khi bố chết, sổ bìa đỏ đứng tên mẹ tôi. Mẹ tôi cũng đã chết, nhưng cả bố và mẹ đều không để lại di chúc.

Vậy luật sư cho tôi hỏi, quyền sử dụng đất sẽ được phân chia như thế nào? Các con của bà cả có được quyền tranh chấp đất hay không? Biết rằng mảnh đất này là nhà tôi ở cùng bố mẹ từ trước đến nay, sử dụng và kiến thiết mảnh đất, chăm sóc bố mẹ từ khi còn khỏe đến khi ốm đau.

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: Q.T

Trả lời:

Điều 676 Bộ luật Dân sự 2005quy định về người thừa kế theo pháp luật:

"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Theo như bạn trình bày, thì đây được coi là tài sản chung của bố mẹ bạn hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, một phần trong khối tài sản chung được coi là di sản của bố bạn và vì bố bạn chết không để lại di chúc nên những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố bạn sẽ có quyền đối với phần di sản mà họ được hưởng. Về nguyên tắc, theo quy định của pháp luật, khi một trong hai vợ chồng mất đi, tài sản chung của hai vợ chồng sẽ được chia đôi, một nửa thuộc về người còn sống, nửa còn lại được coi là di sản của người đã mất. Di sản đó sẽ được chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Do đó, những người thừa kế theo pháp luật của bố bạn sẽ gồm: mẹ bạn và 7 người con của bố bạn.

Và vì mẹ bạn mất cũng không để lại di chúc nên phần di sản của mẹ bạn sẽ do những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật hưởng, gồm: 4 người con của mẹ bạn.

Như vậy, vì là người thừa kế theo pháp luật của bố bạn nên 3 người con của bà cả hoàn toàn có quyền đối với phần di sản của bố bạn. Khi có tranh chấp về thừa kế di sản mà chưa hết thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế thì họ vẫn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp đó.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Chia tài sản thừa kế như nào khi không có di chúc?

Thưa luật sư, Bố tôi là con cả trong gia đinh 5 người. Ông nội tôi mất năm 1980, bà nội tôi vẫn còn sống. Bố mẹ tôi kết hôn năm 1978 và có được 5 người con.

Năm 1990, bố tôi vào Sài Gòn lạp nghiệp, mua nhà và đưa vợ con vào nam sinh sống. Nhưng sau đó bố tôi đột ngọt qua đời và không để lại bấ cứ di chúc nào. Từ đó đến nay gia đình tôi sống hòa thuận không xảy ra bất cứ tranh chấp nào nên cũng không nghĩ đến vấn đề làm lại giấy chủ quyền nhà mà vẫn cứ để như vậy. Vấn đề nảy sinh hiện nay là sức khỏe bà tôi ngày càng yếu, nếu sau này bà tôi mất đi thì căn nhà ( tài sản bố tôi để lại) sẽ được phân chia như thế nào trên pháp luật. Rất mong nhận được câu trả lời của luật sư.

Xin cảm ơn luật sư!

Người gửi: Hữu Công

Email: kname...@gmail.com

Trả lời:

Theo nguyên tắc chung, nếu người mất có di chúc thì tài sản sẽ được chia theo di chúc; nếu không có hoặc di chúc không hợp pháp, tài sản của người mất sẽ được chia theo pháp luật.

Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 quy định cụ thể các hàng thừa kế bao gồm:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Dựa trên dữ kiện mà bạn đưa ra, bố bạn mất và không để lại di chúc. Như vậy, căn nhà mà bố bạn để lại sẽ được chia theo pháp luật. Theo quy định trên, người thừa kế theo pháp luật được xác định dựa trên 3 mối quan hệ với người chết là quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng; và được pháp luật quy định thành nhiều hàng thừa kế. Di sản thừa kế chỉ được chia cho một hàng thừa kế và tuân theo trình tự ưu tiên là 1, 2, 3, nghĩa là những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước (do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản). Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Như vậy, mẹ bạn và 5 anh em bạn đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất đối với di sản của bố bạn. Do đó mỗi người sẽ được nhận phần giá trị của ngôi nhà như nhau.

Hơn nữa, Điều 634 BLDS quy định "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác." Như vậy, việc chia thừa kế còn phụ thuộc vào nguồn gốc tài sản.

Bố mẹ bạn kết hôn năm 1978. Tại thời điểm này, luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đang có hiệu lực. Do đó tài sản trong thời kỳ hôn nhân của bố mẹ bạn sẽ được xác định theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 1959. Theo quy định của Luật này, tất cả tài sản vợ chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng không có quyền có tài sản riêng. Như vậy mặc dù căn nhà do bố bạn kiếm tiền và mua được nhưng tài sản này vẫn được coi là tài sản chung của bố và mẹ bạn. Theo đó, vì căn nhà là tài sản chung của bố mẹ bạn (tài sản chung của vợ chồng) nên sẽ được chia đôi. Phần của người mất được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công​ ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Phân chia di sản khi đã hết thời hiệu khởi kiện thừa kế ? Quyền bán tài sản được thừa kế ?