- 1. Điều kiện về năng lực chủ thể và y chỉ của người lập di chúc
- 1.1. Điều kiện chung
- 1.2. Điều kiện riêng
- 1.2.1. Người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự
- 1.2.2. Người lập di chúc hoàn toàn tự nguyện.
- 2. Điều kiện về thủ tục di chúc
- 2.1. Công chứng
- 2.2. Khai ngân di sản
- 2.3. Thủ tục và văn bản khai nhận thừa kế
- 2.4. Trình tự công chứng
- 3. Điều kiện về hình thức của di chúc
- 3.1. Di chúc bằng miệng
- 3.2. Di chúc bằng văn bản
1. Điều kiện về năng lực chủ thể và y chỉ của người lập di chúc
1.1. Điều kiện chung
Bản chất di chúc cũng là một giao dịch dân sự nên phải đảm bảo các điều kiện của một giao dịch dân sự. Căn cứ vào điều 117 BLDS 2015 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
Thứ nhất, chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập. Chủ thể của giao dịch là những người tham gia diao dịch, có thể là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác. Người tham gia giao dịch phải là người đã thành niên , người không bị mất năng lực hành vi dân sự, không phải là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, không phải là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có quyền xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quan hệ giao dịch do mình xác lập. Những giao dịch dân sự do những người này xác lập có hiệu lực pháp luật, những người chưa thành niên, người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì do người đại diện của người đó xác lập.
Thứ hai, về ý chí của chủ thể giao dịch, theo quy định của BLDS thì chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải hoàn toàn tự nguyện. Việc tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Tự nguyện được hiểu là tự do định đoạt ý chí, không bị ép buộc, dọa nạt, lừa dối, và không bị người khác áp đặt ý chỉ. Chủ thể tham gia giao dịch phải tự mình lựa chọn chủ thể tham gia khác, đối tượng của giao dịch, lựa chọn giá cả, địa điểm và những vấn đề khác trong việc xác lập giao dịch dân sự.
Thứ ba, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Theo đó những giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cầm của pháp luật và trái đạo đức xã hội sẽ bị xác định là vô hiệu.
Thứ tư, hình thức của giao dịch dân sự, hình thức của giao dịch dân sự thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Điều kiện về hình thức chỉ làm giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu trong một số trường hợp yêu cấu hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Quy định tại khoản 2 điều 117 BLDS về lãnh thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định. Quy định này đã cởi mở và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự thực hiện đầy đủ các quyền dân sự của mình. Trên thực tế cả những giao dịch hoàn toàn phản ánh trung thực và khách quan ý chí tự nguyên của các bên, nhưng các bên lại không tuân thủ các quy định về hình thức nào đó mà giao dịch bị tuyên vô hiệu. Quy định về hình thức của giao dịch dân sự không tõ ràng là cơ hội cho những chủ thể không trung thực lạm dụng để hủy một giao dịch dân sự bất lợi cho mình hoặc dựa vào đó để mang lại những lợi ích vật chất có lợi cho minh mà gây thiệt hại cho người khác. Vì vậy, khoản 2 Điều 117 BLDS là một quy định không cũng nhạc và chỉ áp dụng trong một số trường hợp cụ thể.
1.2. Điều kiện riêng
Ngoài điều kiện chung của một giao dịch dân sự thì một bản đi chúc có hiệu lực cần có các điều kiện riêng cụ thể, đó là
1.2.1. Người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự
Thứ nhất, về độ tuổi được phép lập di chúc pháp luật Việt Nam quy định về người lập di chúc tại điều 625 BLDS theo đó
1. Người thanh niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điểu 630 của Bộ luật nảy có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của minh.
2. Người từ đủ mười làm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Pháp luật Việt Nam quy định người thành niên tức là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đây đủ, trừ những trường hợp quy định tại điều 29 BLDS 2015 (mất năng lực hành vi dân sự), điều 23 BLDS 2015 (người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi) và điều 24 BLDS 2015 (hạn chế năng lực hành vi dân sự) không được phép lập di chúc.
Pháp luật Việt Nam cho phép “người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được phép lập di chúc với điều kiện là được cha mẹ hoặc người dám hộ đồng ý về việc lập di chúc” điểm 8 khoản 2 điểu 635 BLDS. Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là bởi vị người từ đủ 15 tuổi cho đến chưa đủ 18 tuổi chưa thể nhận thức được đây dù hành vi, hậu quả của việc lập di chúc nên pháp luật phải kiểm soát hành vi này thông qua cha mẹ hoặc người dâm hộ. Tuy nhiên việc đồng ý này là sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ có cho người lập di chúc lập di chúc hay không chử không có quyền quyết định về nội dung của di chúc Khoản 2 điều 630 BLHS 2015 có quy định “Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha , mẹ hoặc người dám hộ đồng ý về việc lập di chúc" như vậy đối với di chúc được lập bởi người từ dù 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi chỉ có hình thức duy nhất là bằng văn bản.
Thứ hai, về nhận thức, ngoài việc quy định về độ tuổi lập di chúc, pháp luật dân sự Việt Nam cũng có quy định yêu cầu về khả năng nhận thức của người lập di chúc. Người thành niên phải có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 BLDS: “Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép” Theo đó yêu cầu người lập di chúc trong quá trình lập di chúc phải đảm bảo tinh thần minh mẫn sáng suốt không mắc bệnh như tâm thần hay các bệnh khác mà không điều khiển được suy nghĩ hành vi của mình Khoản 2 điều 625 BLDS 2015 quy định về việc lập di chúc đối với những người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Tuy nhiên điều khoản này không nhắc đến khả năng nhận thức của đối tượng tử dù 15 tuổi đến chua dù 18 tuổi. Khoản 2 điều 625 BLDS năm 2015 giống với khoản 2 điều 650 BLDS PGS. TS Phùng Trung Tập đã từng bình luận về khoản 2 điều 650 BLDS quy định trên không những chưa chặt chẽ mà còn thiếu những nội dung quan trọng là căn cứ để xác định hiệu lực của di chúc được thể hiện ở những yếu tố sau: - Khoản 2 điều 650 BLDS chỉ quy định về độ tuổi của cá nhân có thể lập di chúc mà không quy định năng lực trí tuệ của người ở độ tuổi từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi.
1.2.2. Người lập di chúc hoàn toàn tự nguyện.
2. Điều kiện về thủ tục di chúc
2.1. Công chứng
Trước hết để thực hiện công chứng di chúc ở cơ quan công chứng người lập di chúc cần chuẩn bị hồ sơ bao gồm:
+ Phiếu yêu cầu công chứng (Điền thông tin vào mẫu tại Phòng/VP công chứng).
+ Dự thảo di chúc nếu người lập di chúc soạn sẵn
+ Bản sao CMND
+ Hộ khẩu: (Giấy đăng ký kết hôn nếu người lập di chúc là hai vợ chồng).
+ Bản chính giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản (đối với trường hợp là vợ chồng cần Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nha và tái sản gắn liền với đất, Số tiết kiệm)
+ Giấy khám sức khỏe để đảm bảo tinh thân minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc (Có thể khám ở BV quận, huyện).
+ Bản photo CMND của những người được hưởng thừa kế trong nội dung di chúc.
Do người lập di chúc phải tự minh yêu cầu công chứng di chúc, không được ủy quyền nên người lập di chúc tự nộp hồ sơ yêu cầu công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng có thể là Phòng công chứng nhà nước hoặc Văn phòng công chứng tư nhân.
2.2. Khai ngân di sản
Pháp luật Việt Nam tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân với tư cách là chủ sở hữu đổi với tài sản của họ. Vì vậy, trước khi chết họ có quyền định đoạt tài sản của mình cho ai theo ý chí của họ được thể hiện trong di chúc đã lập. Sau khi người để lại di chúc chết, di chúc phát sinh hiệu lực, những người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc có thể tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Trường hợp người để lại di chúc có người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; Con đã thành niên mà không có khả năng lao động) thì chủ thể tiến hành khai nhận di sản thừa kế ngoài những người được chỉ định trong di chúc còn có những người này, hoặc người đại diện theo pháp luật của họ (đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự). Hồ sơ khai nhận di sản thừa kế theo di chúc bao gồm:
+ Giấy chứng tử của người để lại di sản
+ Di chúc
+ Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà đất
+ Chứng minh nhân dân, giấy khai sinh, hộ khẩu của người được hướng di sản theo di chúc.
Quy trình thực hiện khai ngân di sản: Sau khi kiểm tra hồ sơ thấy đầy đủ, phù hợp quy định của pháp luật, cơ quan công chứng tiến hành niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú trước đây của người để lại di sản; trong trường hợp không có nơi thường trú, thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi tạm trú có thời hạn của người đó. Nếu không xác định được cả hai nơi này thì niêm yết tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi có bất động sản của người để lại di sản. Sau 15 ngày niêm yết, không có khiếu nại, tố cáo gì thì cơ quan công chứng chứng nhận văn bản thừa kế.
Trường hợp chỉ một người duy nhất thì lập văn bản khai nhận di sản thừa kế theo Điều 50 Luật Công chứng, trường hợp người thừa kế có cả người thừa kế theo di chúc và những người được hướng di san theo Điều 669 BLDS thì có thể lập văn bản khai ngân di sản thừa kế (tất cả các thừa kế cũng nhận di sản và không thỏa thuận phân chia hoặc lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kể theo Điều 57 luật công chứng 2014 Sau khi tiến hành khai nhận di sản thừa kể tại tổ chức công chung, những người thừa kế sẽ tiến hành thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện nơi có đất. Hồ sơ bao gồm: Bản chính văn bản khai nhận thừa kế có công chứng: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà, giấy tờ khác (giấy tờ tùy thân của người hướng di sản, giây chứng tử, di chúc).
2.3. Thủ tục và văn bản khai nhận thừa kế
- Các giấy tờ cần xuất trình
+ Chứng minh nhân dân, Hộ khẩu, Giấy khai sinh của những người khai nhận di sản thừa kế.
+ Giấy chứng tử của ngườ i để lại di sản thừa kế.
+ Một bản Sơ yếu lý lịch của một trong những người khai nhận di sản thừa kể (đã có xác nhận của UBND phường, xã hoặc cơ quan có thẩm quyền).
+ Giấy tờ về dị sản thừa kế như: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số tiết kiệm, đăng ký xe, cổ phiếu, cổ phần hoặc các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản khác (nếu có)
+ Di chúc hợp pháp (nếu có) .
+ Giấy uỷ quyền, giấy nhường di sản thừa kế, giấy từ chối di sản thừa kế (nếu có)
+ Trường hợp có người tham gia giao dịch không trực tiếp đến kỵ hợp đồng thì phải có uy quyền hợp pháp cho người được uỷ quyền (Người được ủy quyền phải có CMND, hộ khẩu).
2.4. Trình tự công chứng
- Người yêu cầu công chừng nộp đủ các giấy tờ nêu trên cho Công chứng viên. Nếu việc khai nhận di sản thừa kế có nội dung phức tạp hoặc liên quan tới khối tài sản lớn thi công chúng viên thực hiện việc niêm yết thông bảo thừa kế tại UBND phương trong thời hạn 30 ngày.
- Sau thời gian niêm yết, nếu không có khiếu nại, khiếu kiện nào (đã có xác nhận của UBND phường, xã) thì công chứng viên lập văn bản Khai nhận di sản thừa kế hoặc văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ;
- Những người khai nhận di sản thừa kế đọc văn bản, khi đồng ý với nội dung thi ký vào văn bản trước mặt công chứng viên;
- Công chứng viên ký công chứng văn bản
- Người yêu cầu công chứng nộp lệ phí và đóng dấu của Phòng công chứng
3. Điều kiện về hình thức của di chúc
3.1. Di chúc bằng miệng
Di chúc miệng là một loại hình thức di chúc được pháp luật Việt Nam thừa nhận, nhưng nhà làm luật lại chưa đưa ra khái niệm về di chúc miệng. Theo dân gian, di chúc miệng còn có tên gọi là "chúc ngôn" hoặc “di ngôn” để chỉ sự thể hiện ý chí của người lập di chúc thống qua lời nói trong những trường hợp đặc biệt. Thông thường di chúc miệng là những lời “trăn trối” hay “dặn dò” của người sắp chết cho những người còn sống thực hiện ý nguyện cuối cùng của mình về những vấn đề liên quan đến tài sản như: Phân chia di sản, chỉ định người hưởngdi sản, truất quyền hướng đi sản, di sản thờ cúng, di tặng .. Từ đó, là có thể khái quát “di chúc miệng là sự bảy tỏ bằng lời nói ý chí của người để lại di sản thừa kế lúc còn sống trong Việc định đoạt khối đi đặc biệt chỉ bằng văn được lập trong những trường hợp nhất định khi cá nhân không thể lập được di chúc bản Theo Điều 62 BLHS 2015 quy định: “Trường hợp tính mạng một người bị cãi chết de dọa và và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Thực tế không phải lúc nào con người cũng có thể lập đi chúc bằng văn bản được như do trình độ học văn (mù chữ), do các tình huống bất ngờ (lâm bệnh nặng, bị thương nặng không thể viết được...).
Chính vì vậy buộc các nhà làm luật phải chấp nhận chúc ngôn là một hình thức của di chúc với những điều kiện rằng buộc khác nhau. Di chúc miệng chỉ hợp pháp khi nó do người để lại tài sản vẫn còn minh mẫn không bị ép buộc và đúng với quy định của pháp luật. Đặc biệt, sau 3 tháng lập di chúc miệng nếu người lập di chúc vẫn còn sống vẫn còn minh mẫm thi di chúc đó coi như bị hủy. Điều này rất đúng bởi chúc đã có đủ sức khỏe, ý chỉ để nắm giữ tái sản của chính mình. Chúng ta cũng cần xác định được như thế nào là trường hợp minh mẫn về ý chí của chủ thể lập di chúc vì đó là cơ sở pháp lý xác định bản di chúc đó có hiệu lục hay không. Theo mình được biết đó là khi chủ thể vẫn có thể làm chủ được ý chi độc lập của bản thân, biết được mọi thứ xung quanh đang diễn ra và biết được mình nên làm gì và như thế nào. Bên cạnh đó có những trường hợp, người lập di chúc vẫn còn sống nhưng không được minh mẫn, không thể làm chủ ý chí thì bản di chúc vẫn có hiệu lực hay không thì chưa được luật quy định, khi ý chí của người lập di chúc miệng vẫn còn sống mà ý chí không còn minh mẫn nữa thì pháp luật vẫn phải bảo vệ bản di chúc khi người này còn minh mẫn đó là sự tôn trọng và bảo vệ quyền lợi đối với người lập di chúc miệng. So với pháp luật của một số nước khác thì có nước công nhận di chúc bằng miệng còn có nước lại không công nhận, việc lập di chúc bằng máy ghi âm ghi hình cũng có thể được công công nếu có người làm chứng, chứng thực công chúng thì nó có hiệu lực. Nhưng nên hạn chế việc lập đi chức bằng các phương tiện trên vì nó không được khách quan, chúng ta cũng có thể chỉnh sửa thêm bớt câu chữ vào bản di chúc đó.
3.2. Di chúc bằng văn bản
Di chúc bằng văn bản là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (viết tay hoặc đánh máy) có thể có dấu của cơ quan thẩm quyền hoặc không. Đây là hình thức di chúc được khuyến khích dùng còn di chúc miệng chỉ là trong trường hợp đặc biệt. Nó giúp cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế một cách dễ dàng và thể hiện được nguyện vọng ý muốn của người lập di chúc khi vẫn còn minh mẫn và không bị ép buộc, trái với pháp luật. Theo điều 628 BLDS 2015, đi chúc băng văn bản bao gồm:
1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
3. Di chúc bằng văn bản có công chứng
4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Mỗi bản đi chúc bằng văn bản đều phải được thống nhất về nội dung và hình thức thì nó mới có hiệu lực pháp lý và bảo đảm quyền và lợi ích của chủ thể cũng như thể hiện ý chỉ của chủ thể. Theo điều 631 BLDS 2015, nội dung của bản di chúc phải đảm bảo được.
1.Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a. Ngày, tháng, năm lập di chúc
b. Họ tên và nơi cư trú của ng lập di chúc
c. Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng tài sản.
d. Di sản để lại và nơi có đi sản
2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 điều này, đi chúc có thể có các nội dung khác
3 Di chúc không được viết tất hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và kỳ tên hoặc điểm chi của người lập di chúc.
Trường hợp đi chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa. Hầu hết các di chúc đều có những nội dụng yêu cầu như trên nhưng cũng có những di chúc văn bản có các đặc thù riêng tùy theo từng loại hình thức khác nhau. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng. Trước hết di chúc phải có đầy dủ nội dung mà một bản di chúc yêu cầu và "người lập di chúc phải tự viết và khi vào ban di chúc”. Điều này là hết sức quan trọng bởi không có người làm chứng thì bản di chúc rất dễ bị thay đổi, sửa chữa. Viết tay một phần chính là để dễ dàng xác minh đây có phải là bản di chúc được chủ thể viết ra hay không, nó còn thể hiện xem chủ thể lập di chúc có bị ép buộc, có viết bản di chúc trong trạng thái minh mẫn và có đúng với quy định của pháp luật hay không.
Ngoài ra bạn di chúc phải có chữ ký của người viết đi chúc bởi không có người làm chứng thì bản di chúc rất dễ bị giả mạo và không có tính bảo mật. Nó là cơ sở để xác định bản di chúc đó có phải do người lập di chúc viết ra hay không xác định nó có hiệu lực pháp lý hay không, chính vì vậy chữ ký là vô cùng quan trọng trong bản di chúc. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng:
Điều 634 quy định "Trường hợp người làm đi chục không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhỏ người khác hoặc đánh máy bạn di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng, những người làm chứng xác nhận chữ ký vào bản di chúc." Với trường hợp này, người làm chứng có vai trò rất quan trọng trong việc nhìn thấy chủ thể nhờ người khác lập di chúc bằng việc đánh máy và ký tên vào bản di chúc mà không bị ép buộc. Và người làm chứng cũng phải ký tên vào bản di chúc đó thì bản di chúc mới có hiệu lực pháp luật, phải có ít nhất 2 người làm chứng cho việc lập di chúc và mọi người đều có thể làm người làm chứng trừ những người:
“1. Người thừa kể theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
2 Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khan trong việc nhận thức, làm chủ hành vi.”
Ghi rõ họ tên, quê quán của người làm chứng và người viết hộ di chúc là rất cần thiết, di chúc băng văn bản có công chứng hoặc chứng thực Điều 635 BLDS 2015: "Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc". Người lập di chúc có thể lập di chúc ở ngay tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc UBND cấp xã, hoặc cũng có thể tự lập di chúc rồi mang đến cơ quan có thẩm quyền công chứng. Việc công chứng bản di chúc càng làm tăng thêm hiệu lực của bản di chúc đó. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung bản di chúc và họ tên chữ ký của người lập di chúc. Công chứng viên cũng có thẩm quyền có thể không chứng thực bàn di chúc khi nghi ngờ người lập bản di chúc không minh mẫn, bị bệnh ảnh hưởng đến việc độc lập ý chí cá nhân hay bị ép buộc Điều 637 cũng có quy định về người không được công chứng, chứng thực di chúc: Công chứng viên, người có thẩm quyền của UBND cấp xã không được công chứng, chứng thực đối với di chúc nếu thuộc một trong số các trường hợp sau:
1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
2. Người có cha mẹ, vợ hoặc chồng con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
3. Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản, liên quan tới nội dung di chúc.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê