Bảo hiểm xã hội là một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, giữ vai trò bảo đảm thu nhập và ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro trong quá trình lao động hoặc khi hết tuổi lao động. Trong quan hệ bảo hiểm xã hội, người sử dụng lao động không chỉ là chủ thể trực tiếp tổ chức thực hiện việc tham gia bảo hiểm cho người lao động mà còn là cầu nối giữa người lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội. Nhận thức rõ vai trò này, pháp luật đã quy định cụ thể quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội nhằm bảo đảm việc thực hiện chính sách an sinh được đầy đủ, kịp thời, công bằng và minh bạch.
1. Bảo hiểm xã hội là gì?
Theo khoản 1 điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định như sau:
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người tham gia bảo hiểm xã hội khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, khi nghỉ hưu hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội hoặc do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Quy định trên cho thấy bảo hiểm xã hội là một cơ chế an sinh xã hội quan trọng, nhằm bảo đảm thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải các rủi ro hoặc sự kiện làm giảm hoặc mất khả năng lao động và thu nhập. Thông qua việc thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập, bảo hiểm xã hội góp phần giúp người tham gia ổn định cuộc sống, giảm bớt khó khăn về kinh tế trong những giai đoạn nhất định của cuộc đời lao động, từ khi tham gia thị trường lao động cho đến khi nghỉ hưu hoặc qua đời.
Bên cạnh đó, quy định này còn thể hiện rõ nguyên tắc đóng – hưởng và sự chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động. Việc hình thành quỹ bảo hiểm xã hội từ sự đóng góp của các chủ thể tham gia, đồng thời có sự bảo đảm từ ngân sách nhà nước trong những trường hợp nhất định, không chỉ bảo đảm tính bền vững của hệ thống bảo hiểm xã hội mà còn khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện mục tiêu an sinh xã hội, công bằng xã hội và phát triển bền vững.
2. Quyền của người sử dụng lao động được quy định như thế nào?
Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội cho người lao động. Để bảo đảm sự chủ động, minh bạch và đúng pháp luật trong quá trình tham gia và thực hiện bảo hiểm xã hội, điều 12 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định cụ thể các quyền của người sử dụng lao động, qua đó tạo cơ sở pháp lý để họ thực hiện nghĩa vụ, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, người sử dụng lao động có quyền từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Quyền này nhằm bảo vệ người sử dụng lao động trước các yêu cầu trái pháp luật từ cá nhân, tổ chức khác, đồng thời góp phần bảo đảm việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội được tuân thủ đúng quy định. Việc cho phép từ chối các yêu cầu không hợp pháp cũng giúp nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, hạn chế các hành vi lạm dụng hoặc gây khó khăn trong quá trình thực hiện bảo hiểm xã hội.
Thứ hai, người sử dụng lao động được tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 37 của Luật này.
Điều 37. Tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
1. Tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất được quy định như sau:
a) Trong trường hợp người sử dụng lao động gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh dẫn đến việc người lao động và người sử dụng lao động không có khả năng đóng bảo hiểm xã hội hoặc người sử dụng lao động được áp dụng thủ tục phục hồi theo quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản thì được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất trong thời gian tối đa 12 tháng;
b) Hết thời hạn tạm dừng đóng quy định tại điểm a khoản này, người sử dụng lao động và người lao động tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và đóng bù cho thời gian tạm dừng đóng.
Thời hạn đóng bù chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo tháng kết thúc việc tạm dừng đóng. Số tiền đóng bù bằng số tiền phải đóng của những tháng tạm dừng đóng.
2. Người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà bị tạm giam, tạm đình chỉ công việc thì người lao động và người sử dụng lao động tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; trường hợp người lao động được truy lĩnh đủ tiền lương thì người lao động và người sử dụng lao động đóng bù cho thời gian bị tạm giam, tạm đình chỉ công việc bằng số tiền phải đóng của những tháng tạm dừng đóng.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định các trường hợp khác tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Quyền này thể hiện sự linh hoạt của pháp luật trong việc bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động, đặc biệt trong những trường hợp gặp khó khăn do nguyên nhân khách quan. Việc tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội giúp người sử dụng lao động ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh, qua đó tạo điều kiện để tiếp tục thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hiểm xã hội khi điều kiện cho phép.
Thứ ba, người sử dụng lao động được cơ quan bảo hiểm xã hội hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội.
Quyền này nhằm bảo đảm người sử dụng lao động nắm rõ và thực hiện đúng các quy định pháp luật liên quan đến bảo hiểm xã hội, hạn chế sai sót trong quá trình thực hiện. Sự hướng dẫn kịp thời của cơ quan bảo hiểm xã hội góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, đồng thời tạo thuận lợi cho người sử dụng lao động trong việc tham gia và thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động.
Thứ tư, người sử dụng lao động được tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Đây là quyền quan trọng giúp người sử dụng lao động tiếp cận đầy đủ, kịp thời các quy định mới và những thay đổi trong chính sách bảo hiểm xã hội. Thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, người sử dụng lao động có thể nâng cao nhận thức pháp lý, từ đó thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.
Thứ năm, người sử dụng lao động có quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.
Quyền này là cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động khi cho rằng quyền lợi của mình bị xâm phạm. Việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện không chỉ giúp bảo đảm tính công bằng, minh bạch trong việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội mà còn góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Như vậy, việc quy định rõ các quyền của người sử dụng lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội không chỉ góp phần bảo đảm sự tuân thủ pháp luật mà còn tạo điều kiện để họ chủ động thực hiện, giám sát và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Các quyền này đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.
3. Trách nhiệm của người sử dụng lao động quy định như thế nào?
Người sử dụng lao động là chủ thể trực tiếp tổ chức và thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội cho người lao động. Để bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động cũng như hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, điều 13 Luật bảo hiểm xã hội 2024 quy định cụ thể các trách nhiệm mà người sử dụng lao động phải thực hiện trong suốt quá trình sử dụng lao động, từ việc đăng ký tham gia, đóng bảo hiểm xã hội đến việc phối hợp giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội. Cụ thể, trách nhiệm của người sử dụng lao động bao gồm:
- Đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động theo quy định của Luật này; phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trong việc trả sổ bảo hiểm xã hội bản giấy cho người lao động.
- Lập hồ sơ để người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
- Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trong việc xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.
- Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động theo quy định tại Điều 34 của Luật này và hằng tháng trích khoản tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 33 của Luật này từ tiền lương của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.
- Xem xét giới thiệu người lao động thuộc đối tượng theo quy định tại Điều 65 của Luật này đi khám giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa.
- Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động trong trường hợp chi trả thông qua người sử dụng lao động.
- Xuất trình, cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Bồi thường cho người lao động theo quy định của pháp luật nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật này mà gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.
- Phối hợp, tạo điều kiện để cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện thu hồi số tiền bảo hiểm xã hội hưởng không đúng quy định của người lao động khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Như vậy, các trách nhiệm của người sử dụng lao động trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội được quy định toàn diện, rõ ràng và xuyên suốt, thể hiện vai trò, nghĩa vụ của họ trong việc bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động. Việc thực hiện đầy đủ và đúng các trách nhiệm này không chỉ góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động mà còn nâng cao tính tuân thủ pháp luật, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và bền vững.
Kết luận
Việc quy định rõ quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động trong bảo hiểm xã hội không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý, giám sát của cơ quan nhà nước mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người lao động. Thực hiện nghiêm túc các trách nhiệm về bảo hiểm xã hội giúp người sử dụng lao động xây dựng môi trường làm việc ổn định, nâng cao uy tín và phát triển bền vững. Đồng thời, việc bảo đảm tốt quyền lợi bảo hiểm xã hội cũng góp phần củng cố niềm tin của người lao động, qua đó thúc đẩy sự hài hòa, tiến bộ trong quan hệ lao động và đóng góp tích cực vào mục tiêu an sinh xã hội chung của đất nước.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.