1.Điều kiện giám hộ đối với người được giám hộ

Mất năng lực hành vi. Theo BLDS Ðiều 58 khoản 2 điểm b và khoản 3, người mất năng lực hành vi dân sự phải có người giám hộ. Như vậy, khác với người làm luật năm 1995, các tác giả BLDS năm 2005 quy định việc giám hộ như là hệ quả của tình trạng mất năng lực hành vi, chứ không phải là một yếu tố của tình trạng đó . Tình trạng mất năng lực hành vi, về phần mình, được định nghĩa tại BLDS Điều 22 khoản 1: “khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, thì theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định”. Để tình trạng mất năng lực hành vi được ghi nhận, điều cần thiết là đương sự ở trong tình trạng không thể nhận thức được hành vi của mình do bệnh tâm thần hoặc bệnh tật gì đó khác. Bệnh tâm thần thì đã rõ. Còn các bệnh khác là một khái niệm rất rộng. Luật không xây dựng các tiêu chí nào khác, ngoài tiêu chí “không nhận thức, làm chủ được hành vi”, như là hậu quả của bệnh. Trong hầu như tất cả trường hợp, đó là các bệnh đặc trưng bằng sự tác động tiêu cực vào sự phát triển và khả năng vận hành bình thường của não, khiến cho quá trình nhận thức không thể diễn ra suôn sẻ. Tình trạng bệnh tật phải được cơ quan giám định có thẩm quyền xác nhận. Thực ra, chỉ riêng việc xác nhận tình trạng bệnh tật của đương sự chưa đủ để đặt đương sự dưới chế độ giám hộ. Cần có một người nào đó có quyền và lợi ích liên quan yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố đương sự mất năng lực hành vi. Thông thường, đó là một người thân thuộc của người cần được giám hộ. Theo Bộ luật tố tụng dân sự Điều 35 khoản 2 điểm a, Toà án có thẩm quyền xét xử là Toà án nơi cư trú của người mất năng lực hành vi. Bản án được tuyên, như đã nói, trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định. Về mặt lý thuyết, kết luận giám định không ràng buộc Toà án vào nghĩa vụ ra một bản án phù hợp với kết luận đó: nếu xét thấy kết luận không đáng tin cậy, Toà án có quyền yêu cầu giám định lại.

2. Đối với người giám hộ 

Giám hộ đương nhiên. Một khi người đã thành niên mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình bị Toà tuyên bố mất năng lực hành vi, thì những người sau đây, theo thứ tự, sẽ trở thành giám hộ đương nhiên của người đó (Ðiều 62): vợ hoặc chồng, con cả, con kế tiếp, cha, mẹ. Quan hệ giám hộ đương nhiên phát sinh một cách đương nhiên do hiệu lực của bản án đặt người được giám hộ vào tình trạng mất năng lực hành vi.

Giám hộ được cử. Trong trường hợp một người bị tuyên bố mất năng lực hành vi không có người giám hộ đương nhiên, thì UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ hoặc đề nghị một tổ chức đảm nhận việc giám hộ. Thông thường, người được cử làm giám hộ là một trong những người thân thuộc của người được giám hộ; còn tổ chức được yêu cầu giám hộ thường là một tổ chức có thiên hướng hoạt động xã hội.

3.Điều kiện 

Giống như trường hợp giám hộ đối với người chưa thành niên.   Nghị định số 158-CP ngày 27/12/2005 không phân biệt giữa đăng ký giám hộ đối với người chưa thành niên và đăng ký giám hộ đối với người thành niên mất năng lực hành vi; bởi vậy, việc đăng ký giám hộ đới với loại người sau này được thực hiện theo cùng các thủ tục như đối với người chưa thành niên.

4. Cơ chế giám hộ

Tình trạng của người được giám hộ. Người bị tuyên bố không có năng lực hành vi không có quyền tự mình xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự. Mọi giao dịch của người này đều do người giám hộ xác lập, thực hiện (Ðiều 22 khoản 2). Ðiều đó có nghĩa rằng các giao dịch do người được giám hộ tự mình xác lập và thực hiện sau ngày được đặt dưới sự giám hộ có thể bị tuyên bố vô hiệu (Ðiều 130 khoản 1). Luật không có quy định rõ về giá trị của các giao dịch do người này xác lập trước ngày được giám hộ. Nói chung, giao dịch do người không có năng lực hành vi xác lập có thể bị tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của người giám hộ, không phân biệt giao dịch được xác lập trước hay sau ngày giám hộ; nhưng các giao dịch do người được giám hộ xác lập trước ngày bị tuyên bố mất năng lực hành vi chỉ có thể bị vô hiệu hoá trong trường hợp người được giám hộ không nhận thức được hành vi của mình lúc xác lập giao dịch. Các di chúc do người được giám hộ lập trước ngày được đặt dưới chế độ giám hộ có thể bị tuyên bố vô hiệu, một khi có bằng chứng cho thấy người này không minh mẫn, sáng suốt lúc di chúc được lập (Ðiều 647 khoản 1 điểm a). Tuy nhiên, luật không trả lời câu hỏi liệu sau khi bị tuyên bố mất năng lực hành vi, người được giám hộ có hay không quyền lập di chúc. Trong logic của Điều 147 khoản 1, tình trạng mất năng lực hành vi tự nó không ảnh hưởng đến giá trị của di chúc: nếu tỉnh táo và tự nguyện, người mất năng lực hành vi vẫn có quyền lập di chúc, thậm chí không cần sự đồng ý của người giám hộ. Người mất năng lực hành vi không thể kết hôn, dù có lúc tỉnh táo và mong muốn điều đó (Luật Hôn nhân và gia đình Điều 10 khoản 2). Thực ra, cho đến bây giờ, không ai hiểu tại sao người mất năng lực hành vi lại không thể kết hôn: nếu có một người nào đó chấp nhận kết hôn với người mất năng lực hành vi và bản thân người sau này, trong lúc tỉnh táo, cũng đồng ý, thì điều đó hoàn toàn tốt đẹp đối với người mất năng lực hành vi. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ. Người giám hộ cho người đã thành niên mất năng lực hành vi có các quyền và nghĩa vụ giống như người giám hộ cho người chưa thành niên dưới 15 tuổi, trừ nghĩa vụ giáo dục người được giám hộ. Ngoài ra, người giám hộ cho người đã thành niên còn có trách nhiệm chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ (Điều 67 khoản 1). Chấm dứt việc giám hộ. Việc giám hộ cho người đã thành niên mất năng lực hành vi chấm dứt khi người được giám hộ chết hoặc khi có quyết định của Toà án huỷ bỏ quyết định tuyên bố đương sự bị mất năng lực hành vi. Hẳn quyết định của Toà án chỉ được ra trên cơ sở kết luận của cơ quan giám định có thẩm quyền. Người yêu cầu ra quyết định có thể là người giám hộ, đương sự hoặc bất kỳ người nào có quyền và lợi ích liên quan. Sau khi việc giám hộ chấm dứt, người giám hộ tiến hành thanh toán tài sản giống như trong trường hợp giám hộ cho người chưa thành niên

5.Đại diện theo uỷ quyền là gì 

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015: Đại diện theo ủy quyền được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện. Theo đó, người đại diện nhân danh và vì lợi ích của người được đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện. Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện.

Người đại diện có được tự mình thực hiện công việc đã ủy quyền

Khi đã ủy quyền lại cho em, anh B không cần tự mình thực hiện các nội dung đã ủy quyền cho em nữa vì đã có em thay mặt và nhân danh thực hiện các công việc đó. Tuy nhiên, anh B vẫn có quyền tự mình thực hiện các công việc đã ủy quyền lại cho em nếu việc này không vi phạm các điều khoản của hợp đồng và trong trường hợp anh A xét thấy cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện cho Công ty A. Trường hợp, việc anh A tự ý thực hiện các công việc đã ủy quyền cho em mà gây thiệt hại cho em thì em có quyền yêu cầu anh B bồi thường thiệt hại tương ứng.

Về vấn đề Anh B tự mình thực hiện các công việc đã ủy quyền, em cũng cần lưu ý quy định về quyền đơn phương Chấm dứt hợp đồng của anh B theo quy đình tại Điều 569 BLDS 2015:

– Trường hợp uỷ quyền có thù lao, bên uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được uỷ quyền tương ứng với công việc mà bên được uỷ quyền đã thực hiện và bồi thường thiệt hại;

– Trường hợp uỷ quyền không có thù lao, bên được uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên uỷ quyền biết một thời gian hợp lý.

Trách nhiệm pháp lý của người được ủy quyền khi người ủy quyền tự thực hiện các công việc đã ủy quyền

Đối với vấn đề trách nhiệm pháp lý đối với em khi anh B tự thực hiện các công việc đã ủy quyền cho em, Luật sư LawKey định hướng cho em giải quyết vấn đề này như sau:

– Thứ nhất, em cần biết, theo quy định của BLDS 2015, người được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc theo uỷ quyền và báo cho bên uỷ quyền về việc thực hiện công việc đó; Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện uỷ quyền về thời hạn, phạm vi uỷ quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi uỷ quyền; Bảo quản, giữ gìn tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện việc uỷ quyền; Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc uỷ quyền; Giao lại cho bên uỷ quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc uỷ quyền theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật; Và bồi thường thiệt hại do vi phạm các nghĩa vụ trên.

Do đó, căn cứ vào quy định này, em cần đối chiếu lại các sự kiện trong vấn đề của mình để xác định bản thân có vi phạm nghĩa vụ hay không. Từ đó, xác định thiệt hại tương ứng do lỗi vi phạm nghĩa vụ của của mình gây ra. Em có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại này cho anh B.

–  Thứ hai, em cần trao đổi lại với anh B để biết được nguyên nhân vì sao công việc đã ủy quyền cho em mà anh B vẫn thực hiện các công việc đó. Nếu là do anh B đơn phương chấm dứt hợp đồng, thì em cần căn cứ theo quy đình tại Điều 569 BLDS 2015 đã dẫn chiếu ở trên để xác định thiệt hại do hành vi của anh B gây ra, yêu cầu anh B bồi thường thiệt hại cho em.

– Thứ ba, trường hợp, em băn khoăn về các hành vi của anh B và cũng không còn nhu cầu nhận ủy quyền nữa, em có thể chấm dứt việc được ủy quyền theo căn cứ sau:

+ Nếu uỷ quyền giữa em và anh B không có thù lao thì em có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được uỷ quyền một thời gian hợp lý;

+ Nếu uỷ quyền giữa em và anh B thì em có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và phải bồi thường thiệt hại cho bên uỷ quyền, nếu có.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)