Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hôn nhân của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014
2. Luật sư tư vấn:
Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định tại Điều 95 Luật hôn nhân gia đình 2014 và quy định chi tiết tại Nghị định 10/2015/ND-CP.
Đầu tiên, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản. Văn bản phải có công chứng Nhà nước và nội dung phải đầy đủ theo quy định của luật này.
* Đối với bên nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện:
Thứ nhất, bên nhờ mang thai hộ phải là vợ chồng hợp pháp. Cặp vợ chồng hợp pháp là cặp vợ chồng: đảm bảo điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật hôn nhân gia đình năm 2014 và những cặp vợ chồng không đặng ký kết hôn nhưng sống chung như vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987. Nhằm đảm bảo quyền lợi cho đứa trẻ sinh ra được sống trong gia đình đầy đủ cha, mẹ, gia đình hợp pháp.
Thứ hai, người vợ của cặp vợ chồng nhờ manmang thai được tổ chức y tế xác nhận không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Quy định này xác thực tính chính xác tình trạng không thể mang thai của người vợ, tránh việc những người phụ nữ vẫn có khả năng sinh con nhưng không muốn mang bầu vì sẽ xấu nhan sắc hay lợi dụng mang thai hộ vì các mục đích phi thương mại khác.
Thứ ba, cặp vợ chồng nhờ mang thai phải đang không có con chung. Tức là giới hạn của việc mang thai hộ chỉ được thực hiện khi họ chưa từng có con và người vợ không thể mang thai bởi suy cho cùng ý nghĩa của phương pháp hỗ trợ sinh sản là đáp ứng nhu cầu thiên chức làm cha, mẹ của những cặp vợ chồng. Nếu trước kia họ đã từng có con thì họ vẫn có thể thực hiện thiên chức làm cha, mẹ với những đứa trẻ đó.
Trong quy định của Khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014 không nói số lần nhờ mang thai hộ như với quy định của điểm b Khoản 3 Điều 95. Vậy sẽ có hai khả năng sẽ xảy ra
Trường hợp 1, Chỉ được nhờ mang thai hộ một lần nếu thành công. Tức là, trong trường hợp nhờ mang thai mà cái thai bị hỏng, sẩy, đứa bé sinh ra bị chết...vẫn có thể nhờ mang thai hộ. Còn khi cặp vợ chồng đó đã nhờ mang thai hộ nhưng con sinh ra hoặc con bị bệnh , khuyết tật...cũng không được áp dụng mang thai hộ. Nhận thấy giả thiết này phù hợp với quy định “cặp vợ chồng nhờ mang thai phải đang không có con chung” trước đó.
Trường hợp 2, được nhờ mang thai hộ nhiều lần nhưng với mỗi lần người mang thai hộ khác nhau. Gỉa thiết này trái với quy định, bởi đã nhờ mang thai hộ một lần thì đứa trẻ là con chung của cặp vợ chồng mang thai hộ nên cũng sẽ tính là đã từng có con và không được áp dụng mang thai hộ cho những lần tiếp theo.
Thứ tư, vợ chồng nhờ mang thai hộ đã được tư vấn về các vấn đề: y tế, tâm lý, pháp lý...có thể xảy ra trong quá trình nhờ mang thai hộ.
Về vấn đề y tế: chính là tư vấn cho người mang thai hộ những hoạt động nào sẽ tác động vào họ hay họ phải tiến hành kiểm tra những gì sao cho phù hợp với cơ thể và phương pháp hỗ trợ sinh sản.
Về tâm lý: giúp họ ổn định tâm lý trong cả quá trình thực hiện.
Về pháp lý: giúp người nhờ mang thai hiểu thật rõ vấn đề và tiến hành phương pháp tích cực, đúng đắn theo quy định của pháp luật.
*Với người mang thai hộ: phải có đủ các điều kiện :
Thứ nhất, là người thân thích cùng hàng bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ. Theo quy định tại khoản 7 Điều 2 Nghị định 10/2015/ ND-CP đã chỉ ra thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ. Theo khoàn 19 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình 2014 Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời. Qua quy định trên ta thấy Nghị định 10/2015 có quy định rộng hơn về người thân thích cùng hàng là: chị dâu, em dâu bởi nếu theo luật hôn nhân và gia đình thì chị dâu, em dâu không thuộc quan hệ này. Theo tác giả cho rằng, quy định của Nghị định là phù hợp vì chị dâu, em dâu cũng là một thành viên trong gia đình; cùng hàng; ...và cũng sẽ là một trường hợp mở rộng để tăng cơ hội cho những cặp vợ chồng vô sinh nhờ mang thai hộ bởi trên thực tế việc tìm người mang thai hộ khá khó khăn.
Có ý kiến cho rằng việc luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định người mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng không phù hợp với quan niệm xã hội, trái với luân thường đạo lý, đi ngược lại với những quan niệm về chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán và bản thân nó có thể chứa đựng trong đó những yếu tố “loạn luân”. Họ cho rằng nên quy định đối tượng mang thai là những người không phải người thân trong gia đình là bạn bè, người lạ.
Với tác giả thì không đồng tình với ý kiến trên. Bởi:
Về sinh học việc mang thai hộ chỉ là đẻ hộ, nhờ hay là mượn bụng của em gái (chị gái) để nuôi dưỡng bào thai đó trong một thời gian nhất định và đứa trẻ sinh ra là đứa con của cặp vợ chồng nhờ mang thai.
Quy định là người thân thích cùng bên vợ hoặc bên chồng giúp giới hạn đối tượng mang thai hộ , hạn chế tối đa tình trạng mang thai hộ vì mục đích thương mại. Ngoài ra, người thân thích là người thấu hiểu cho hoàn cảnh của cặp vợ chồng không thể mang thai, sẽ hạn chế trường hợp không trả lại con sau khi sinh. Ngoài ra, trong quá trình mang thai người mang thai hộ có thể được cahwm sóc một cách tận tình hay chính bản thân họ sẽ có ý thích chăm sóc đứa bé hơn là người ngoài.
Thứ hai, Người được nhờ mang thai hộ : đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ. Như vậy, việc quy định đã từng sinh con bởi việc mang thai hộ là vấn đề quan trọng- cần người phụ nữ đã có kinh nghiệm, có tâm lý và kỹ năng trong việc chăm sóc bản thân và thai nhi. Quy định cần xác nhận của tổ chức y tế về khả năng mang thai và chỉ được mang thai một lần nhằm: thứ nhất, để hạn chế khả năng mang thai hộ vì mục đích thương mại; thứ hai, để đảm bảo sức khỏe cho người phụ nữ đó, đảm bảo sức khỏe cho đứa trẻ nhờ mang thai và những lần mang thai con của họ sau này. Thứ ba, Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có văn bản đồng ý của người chồng. Nhận thấy, việc mang thai hộ cũng sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt, cuộc sống của người mang thai và gia đình họ chính vì thế, cần sự đồng ý của người chồng người mang thai hộ.
Tương tự như người nhờ mang thai thì người mang thai hộ cũng phải được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý trước khi thực hiện nhằm có những hiểu biết chính xác về vấn đề. Giúp đảm bảo quyền lợi chính đáng của cả hai bên.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê