Mục lục bài viết
- 1. Điều kiện và các biện pháp bảo hộ công dân đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐUQT
- 1.1 Điều kiện
- 1.2 Biện pháp bảo hộ công dân đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐUQT về hợp tác lao động
- 1.3. Nội dung bảo hộ
- 1.3.1. Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp
- 1.3.2. Hỗ trợ theo các ĐUQT về hợp tác lao động trong tình trạng khó khăn
- 1.3.3. Hỗ trợ theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động trong tình trạng khủng hoảng
- 1.4 Cơ quan có thẩm quyền bảo hộ công dân đi làm việc ở nước ngoài
1. Điều kiện và các biện pháp bảo hộ công dân đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐUQT
về hợp tác lao động
1.1 Điều kiện
Để được một quốc gia nào đó bảo hộ, công dân đi làm việc ở nước ngoài theo cá điều ước quốc tế về hợp tác lao động phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Một là, điều kiện về quốc tịch: Đây là điều kiện tiên quyết để công dân đi làm việc ở nước ngoài được bảo hộ. Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý (quyền và nghĩa vụ) giữa một cá nhân và một quốc gia có chủ quyền. Nếu một người có quốc tịch của một quốc gia thì người đó được gọi là công dân của quốc gia đó, đồng thời, quốc gia đó có thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân mang quốc tịch nước họ. Một trong những đặc điểm quan trọng của mối quan hệ pháp lý này là không bị giới hạn bởi không gian mà chỉ dựa trên cơ sở quyền tài phán đối với công dân mình, dù người đó sinh sống ở trong nước hay nước ngoài. Các quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể khác nhau tùy theo quốc gia. Điều 15 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền chỉ rõ “Mọi người đều có quyền với một quốc tịch” và “Không ai đáng bị tước quốc tịch một cách tùy tiện hay bị từ chối quyền đổi quốc tịch”. Các quốc gia có quyền quyết định công dân của nước đó. Những việc quyết định này là một phần của luật quốc tịch. Trong một vài trường hợp, việc quyết định quốc tịch được dựa theo luật pháp quốc tế.
Trong thời kỳ hiện đại, một công dân có một hay nhiều quốc tịch là điều phổ biến. Về mặt pháp lý, trường hợp một người có hai hay nhiều quốc tịch thì mỗi nước mà người đó có quốc tịch đều có thể coi người này là công dân của mình và đều có thể thực hiện quyền bảo hộ đối với người đó. Mỗi quốc tịch mà người đó có được phù hợp với pháp luật quốc gia và là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền bảo hộ của Nhà nước đối với người này khi ở nước ngoài.
- Đối với trường hợp người hai quốc tịch cư trú ở một trong hai nước mà người đó là công dân:
Trong việc áp dụng nguyên tắc công bằng: Điều 3 Công ước La–hay (1930) ghi nhận một số vấn đề liên quan đến xung đột trong luật quốc tịch như sau: “Một người có hai hay nhiều quốc tịch có thể được mỗi nước mà người ấy có quốc tịch coi là công dân nước mình”. Nhưng vấn đề đặt ra là liệu có quốc gia nào có thể bảo hộ công dân để chống lại một quốc gia khác mà người đó cũng có quốc tịch hay không?
Giải quyết vấn đề này, phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất là trong trường hợp này cần áp dụng nguyên tắc bình đẳng, có nghĩa là không một quốc gia nào có thể đưa được ra yêu sách đối với với quốc gia kia trong việc bảo hộ đối với người là công dân của cả hai nước. Quốc gia mà người hai quốc tịch không cư trú không được thực hiện bảo hộ ngoại giao chống lại quốc gia mà người hai quốc tịch đang cư trú và cũng là công dân. Bất cứ sự can thiệp nào của quốc gia mà người hai quốc tịch không cư trú sẽ bị coi là hành vi can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Để chứng minh luận điểm này, Điều 4 Công ước La-hay năm 1930 ghi rõ: “Một nước không được bảo hộ ngoại giao cho một kiều dân của mình chống lại một nước khác mà người này cũng có quốc tịch và hiện đang cư trú”. Có thể nói, đây là một nguyên tắc mà không chỉ được các nhà nghiên cứu ủng hộ mà còn được ghi nhận trong nhiều quyết định của Uỷ ban hỗn hợp hoặc Toà án quốc tế.
- Đối với trường hợp người hai quốc tịch nhưng cư trú ở nước thứ ba – nước mà người hai quốc tịch không phải là công dân: Đối với trường hợp này thì cho đến nay nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu được áp dụng rộng rãi nhất. Theo nguyên tắc này, nước thứ ba sẽ dành quyền bảo hộ ngoại giao đối với người hai quốc tịch cho nước mà người đó có quan hệ gắn bó nhất. Nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu được ghi nhận tại Điều 5 Công ước La-hay 1930 như sau: “Trong phạm vi một nước thứ ba, người có nhiều quốc tịch sẽ được coi như có một quốc tịch. Không phương hại đến việc áp dụng luật lệ của nước mình về quy chế pháp lý của người dân và các công ước có hiệu lực, nước thứ ba sẽ chỉ công nhận trên lãnh thổ của mình một trong các quốc tịch mà người đó có. Hoặc là quốc tịch của nước mà người đó thường trú hoặc nơi cư trú chủ yếu, hoặc quốc tịch của nước mà trên thực tế người đó có mối quan hệ chặt chẽ nhất”. Nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu chưa được luật quốc tế lý giải thống nhất nhưng thường được các quốc gia liệt kê một số yếu tố quan trọng để xác định quốc tịch hữu hiệu như: nơi thường trú, ngôn ngữ, nơi thực hiện các quyền dân sự, chính trị như tham gia bầu cử, tham gia vào các cơ quan nhà nước ở quốc gia đó; các quyền về tài sản hay thực hiện các nghĩa vụ của công dân (đặc biệt là nghĩa vụ quân sự); sử dụng giấy tờ/hộ chiếu đi lại của nước nào; nơi có quan hệ gia đình…
Hai là, công dân được bảo hộ khi có quốc tịch liên tục: Một trong những điều kiện để một nhà nước có thể tiến hành bảo hộ ngoại giao là người được bảo hộ phải liên tục giữ quốc tịch của quốc gia bảo hộ. Đây là một trong những quy phạm của luật tập quán pháp quốc tế được Toà án Công lý quốc tế (PCIJ) thừa nhận trong vụ Đường sắt Panevezys –Saldutikis. Theo quy định này thì cần có hai điều kiện sau: 1) Người được bảo hộ phải có quốc tịch của nước bảo hộ vào thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người đó; 2) Người được bảo hộ tiếp tục giữ quốc tịch đó khi Nhà nước tiến hành bảo hộ ngoại giao.
Tuy nhiên, về điều kiện thứ hai thì các nhà nghiên cứu lại chia thành hai loại quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng người được bảo hộ phải có quốc tịch của nước bảo hộ vào thời điểm nước bảo hộ đưa ra khiếu nại; có quan điểm cho rằng người này phải giữ quốc tịch nước bảo hộ cho đến khi kết thúc quá trình bảo hộ ngoại giao. Nghiên cứu sinh đồng tình với quan điểm cho rằng “người được bảo hộ phải giữ quốc tịch nước bảo hộ cho đến khi kết thúc quá trình bảo hộ ngoại giao”. Bởi vì, sau khi nhà nước đã đưa ra khiếu nại trước Toà án hay Toà trọng tài quốc tế, nếu người được bảo hộ không còn giữ quốc tịch của quốc gia bảo hộ thì nước này sẽ không có cơ sở, căn cứ pháp lý để tiến hành các biện pháp bảo hộ ngoại giao.
Ba là, dựa vào mối quan hệ gắn bó giữa các quốc gia với nhau, một quốc gia có thể bảo hộ người không phải là công dân của quốc gia mình: Đây là trường hợp có thể xảy ra khi việc bảo hộ này phù hợp với tập quán quốc tế hoặc các điều ước quốc tế giữa các nước có liên quan. Trong trường hợp chưa có điều ước quốc tế thì việc bảo hộ người không phải là công dân của quốc gia bảo hộ có thể được thực hiện dưới dạng: một nước bảo hộ các thuỷ thủ nước ngoài đang phục vụ trên tàu thuyền mang cờ nước mình; các nước phương Tây bảo hộ các con chiên của Chúa là người nước ngoài; công dân một nước có thể liên hệ để nhận sự bảo hộ ngoại giao của cơ quan ngoại giao, lãnh sự một nước thứ ba – chủ yếu là các nước phương Tây trong khu vực mình đang sống; bảo hộ những người không phải là công dân nước mình tại các vùng thuộc địa, phụ thuộc hay quản thác; những nước mạnh giúp đỡ những người không phải là công dân nước mình trong trường hợp khẩn cấp như chiến tranh, nạn dịch...
Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963 cũng để ngỏ khả năng một nước có thể tiến hành bảo hộ ngoại giao những người không có quốc tịch nước mình. Theo mục a Điều 5 Công ước thì một trong những chức năng chính của cơ quan lãnh sự là “bảo vệ nước tiếp nhận các quyền lợi của công dân và pháp nhân nước cử trong phạm vi cho phép của luật quốc tế”. Tuy nhiên, Điều 8 Công ước quy định: “Sau khi thông báo một cách thích hợp cho nước tiếp nhận, Cơ quan lãnh sự nước cử có thể thực hiện chức năng lãnh sự thay mặt cho một nước thứ ba ở nước tiếp nhận, trừ khi nước này phản đối”. Với quy định này, thì nước đại diện cho nước thứ ba có quyền bảo hộ công dân nước thứ ba ở nước tiếp nhận, tức là bảo hộ người không phải là công dân nước mình. Trên thực tế, có nhiều nước thực hiện việc bảo hộ như vậy nhưng chủ yếu giới hạn ở việc bảo hộ lãnh sự (như thăm hỏi lãnh sự, tiếp xúc với người bị bắt, tạm giam, chuyển thư từ, quà cáp, đại diện trước toà…). Theo Quyết định của Cộng đồng châu Âu thì Cộng đồng này mở rộng việc bảo hộ lãnh sự cho bất kỳ công dân nào của một nước thành viên Cộng đồng Châu Âu không có cơ quan Đại diện ngoại giao hay Cơ quan Lãnh sự ở một nước thứ ba. Ta đã cho phép các nước Cộng đồng Châu Âu thực hiện việc này. Năm 2018, các nước trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) đã ký kết Hướng dẫn trợ giúp lãnh sự cho công dân các nước ASEAN tại nước thứ 3. Trên cơ sở Hướng dẫn này, các nước trong ASEAN có thể đàm phán, ký kết các Điều ước quốc tế song phương để các cơ quan đại diện của nước này tham gia bảo hộ lãnh sự đối với công dân của nước kia tại nước thứ ba nơi mà không có cơ quan đại diện của nước người cần bảo hộ lãnh sự là công dân.
Bốn là, một số điều kiện bảo hộ công dân đi làm việc ở nước ngoài khác: Bên cạnh điều kiện quốc tịch, pháp luật quốc tế còn đề cập một số điều kiện khác đối với quốc gia tiến hành bảo hộ đối với công dân đi làm việc ở nước ngoàinhư: điều kiện “có hành vi vi phạm” và “sử dụng hết các biện pháp ở nước sở tại”.
1.2 Biện pháp bảo hộ công dân đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐUQT về hợp tác lao động
Phương thức bảo hộ công dân đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động là được thực hiện qua con đường lãnh sự, ngoại giao, phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật nước sở tại và nằm ngoài quyền tài phán của Nhà nước.
Để BHCD nước mình đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quóc tế và hợp tác lao động, mỗi quốc gia có thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau. Các biện pháp bảo hộ rất đa dạng, bao gồm tất cả các hoạt động mà Nhà nước thực hiện để giúp đỡ và quản lý công dân nước mình đi làm việc ở nước ngoài. Đó có thể là các hoạt động đơn giản nhất, được tiến hành ngay khi công dân chưa xuất cảnh khỏi biên giới nước mình như việc cấp hộ chiếu, visa xuất cảnh, trang bị những thông tin về một nước mà họ sắp tới cho đến những hoạt động phức tạp hơn như đưa vụ việc ra Toà án quốc tế hay sử dụng vũ lực để bảo hộ công dân.
Do những đặc thù của nó mà các biện pháp BHCD đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế và hợp tác lao động có khi không gây tranh chấp hay ảnh hưởng tới mối quan hệ của các quốc gia liên quan. Bên cạnh đó, mặc dù BHCDđi làm việc ở nước ngoài được các quốc gia công nhận và coi là quyền của mình nhưng không phải lúc nào công tác bảo hộ cũng được thực thi một cách đầy đủ. Thực tế cho thấy, BHCDđi làm việc ở nước ngoài được tiến hành ở mức độ nào hay áp dụng biện pháp gì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: quyền nào đã bị vi phạm, mức độ vi phạm, tầm quan trọng của quyền bị vi phạm đối với cá nhân và lợi ích của quốc gia, thái độ của nước sở tại, nguy cơ ảnh hưởng tới quan hệ giữa hai nước, uy tín về chính trị, áp lực trong nước, cơ hội lợi dụng sự việc để thúc đẩy lợi ích chính trị, kinh tế của nước có yêu cầu bảo hộ.
Có thể nói, việc đề ra mức độ và biện pháp bảo hộ đối với công dân đi làm việc ở nước ngoài còn tuỳ thuộc vào mối quan hệ của quốc gia sở tại và quốc gia có người lao động đến làm việc, việc cân nhắc lợi – hại trong bối cảnh trong nước và quốc tế lúc đó. Quốc gia có yêu cầu bảo hộ công dân căn cứ vào mức độ của sự việc và lợi ích của quốc gia mình có thể áp dụng tuần tự các biện pháp hoặc lựa chọn đồng thời các biện pháp bảo hộ.
1.3. Nội dung bảo hộ
1.3.1. Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp
Bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và công dân đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ nói riêng là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong hệ thống pháp luật lao động của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam với triết lý: người lao động là đối tượng yếu thế trong quan hệ lao động, là đối tượng cần được bảo vệ, nhất là trong môi trường làm việc ở nước ngoài. Bởi vì họ là người “phải sống xa gia đình, xa quê hương, tổ quốc, xa những người hướng dẫn, hỗ trợ và bảo vệ; chính vì vậy, họ rất dễ bị bóc lột, phân biệt đối xử và xâm phạm các quyền [61;tr.14]. Nội dung bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động được pháp luật quy định ở tất cả các giai đoạn: trước khi đi làm việc ở nước ngoài, trong thời gian làm việc ở nước ngoài và khi hết thời hạn làm việc ở nước ngoài trở về nước.
1.3.2. Hỗ trợ theo các ĐUQT về hợp tác lao động trong tình trạng khó khăn
Nhà nước tiến hành BHCD ở nước ngoài trong trường hợp công dân cần giúp như hỗ trợ về tài chính cũng như phi tài chính khi họ gặp khó khăn, ốm đau, bệnh tật, bị tai nạn, chết ở nước ngoài mà không thể tự mình khắc phục được hậu quả vào thời điểm đó. Tuy nhiên, việc giúp đỡ công dân đi làm việc ở nước ngoài gặp khó khăn được thực hiện trên cơ sở những điều kiện nhất định theo quy định pháp luật quốc gia cũng như nguồn lực thực tế của quốc gia đó trong BHCD ở nước ngoài. Nghĩa vụ BHCD trong trường hợp gặp khó khăn về tài chính dựa trên nguyên tắc có hoàn trả và phải bảo đảm trên cơ sở pháp luật, bảo đảm sử dụng nguồn lực ngân sách và nguồn lực xã hội hóa từ việc đóng góp của các tổ chức cá nhân một cách hiệu quả, hợp lý và cân bằng với sự hỗ trợ công dân trong nước ở các tình huống tương tự.
Trong bối cảnh hiện nay, tình hình khu vực và thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, ngay cả những nơi được coi là bảo đảm về mặt an ninh cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro; biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của xã hội. Bên cạnh đó, cùng với đà phát triển, hội nhập quốc tế của đất nước, trung bình hàng năm có 7- 9 triệu lượt công dân Việt Nam ra nước ngoài với nhiều mục đích khác nhau gây khó khăn cho công tác hỗ trợ, bảo hộ công dân. Vì vậy, việc tích cực hỗ trợ, tiến hành các biện pháp BHCD trong tình trạng khó khăn là vô cùng cần thiết.
Hỗ trợ công dân trong tình trạng khó khăn chủ yếu dựa trên pháp luật quốc gia và nguồn lực của mình trên cơ sở tôn trọng pháp luật quốc tế và pháp luật nước sở tại.
1.3.3. Hỗ trợ theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động trong tình trạng khủng hoảng
Theo nghĩa thông thường, khái niệm “khủng hoảng” được dùng để chỉ những tình huống bất thường, trong đó có những mối đe dọa tức thời và nghiêm trọng đến sinh mạng, tài sản của công dân ở nước ngoài do hậu quả của thảm họa, của mối đe doạ sắp xảy ra, của quá trình tích tụ các yếu tố bất lợi, của xung đột vũ trang, của sự suy thoái môi trường hoặc các điều kiện an ninh, trật tự xã hội khác ở nước sở tại. Ví dụ như: Khủng bố; đánh bom liều chết; động đất, sóng thần, bão lụt; tai nạn, dịch bệnh gây thương vong lớn về người và tài sản,…
Trong bối cảnh hiện nay, tình hình khu vực và thế giới ngày càng diễn biến phức tạp, ngay cả những nơi được coi là đảm bảo về mặt an ninh cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro; biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của xã hội. Bên cạnh đó, cùng với đà phát triển, hội nhập quốc tế của đất nước, trung bình hàng năm có hơn 10 triệu lượt công dân Việt Nam ra nước ngoài với nhiều mục đích khác nhau gây khó khăn cho công tác bảo hộ công dân. Vì vậy, việc tích cực hỗ trợ, tiến hành các biện pháp BHCD trong tình huống xảy ra khủng hoảng ở nước ngoài là vô cùng cần thiết.
Như vậy, hoạt động BHCD trong tình trạng khủng hoảng có thể bao gồm các hoạt động có tính chất công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính, trợ giúp pháp lý hoặc các hoạt động có tính giúp đỡ như trợ cấp tài chính, phương tiện giao thông cho công dân khi họ gặp khó khăn trở về nước như trong bối cảnh đại dịch Covid -19… Khi khủng hoảng xảy ra, yếu tố bất ngờ sẽ đẩy tình trạng công dân ở nước ngoài đến bối cảnh không thể tự khắc phục được ngay tức thời nên quốc gia tiến hành BHCD của mình ở nước ngoài sẽ phải áp dụng pháp luật của mình trên cơ sở vận dụng pháp luật quốc tế, pháp luật nước sở tại cùng với việc kết hợp các biện pháp BHCD của quốc gia tiến hành bảo hộ cùng sự hợp tác tích cực với các tổ chức quốc tế cũng như thiện chí của quốc gia sở tại.
1.4 Cơ quan có thẩm quyền bảo hộ công dân đi làm việc ở nước ngoài
Dựa trên cơ sở cơ cấu tổ chức, chức năng và phạm vi hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền BHCD, có thể chia các cơ quan này ra làm 02 loại: cơ quan có thẩm quyền trong nước và cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.
a) Cơ quan có thẩm quyền ở trong nước: Thực tiễn cho thấy, hầu hết các quốc gia đều thực hiện việc BHCD đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động thông qua Bộ Ngoại giao. Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm trước Chính phủ về các hoạt động BHCD đi làm việc ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế về hợp tác lao động. Ngoài Bộ Ngoại giao, các cơ quan, Bộ, ngành địa phương cũng có trách nhiệm phối hợp với Bộ Ngoại giao trong công tác BHCD Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
b) Cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài: Theo nguyên tắc chung, thẩm quyền BHCD nước mình đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ thuộc về các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước cử đại diện tại nước tiếp nhận (sau đây gọi tắt là cơ quan đại diện).
Theo quy định của Việt Nam, các cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài gồm: Bộ Ngoại giao, Cục Lãnh sự, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, các cơ quan đại diện.
“Cơ quan đại diện bao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự, cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế” . Trong đó:
Cơ quan đại diện ngoại giao là Đại sứ quán; Cơ quan đại diện lãnh sự là Tổng Lãnh sự quán và Lãnh sự quán; Cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế là Phái đoàn thường trực, Phái đoàn, Phái đoàn quan sát viên thường trực và cơ quan có tên gọi khác thực hiện chức năng đại diện của Nhà nước Việt Nam tại tổ chức quốc tế liên chính phủ 10;
Việc BHCD đi làm việc ở nước ngoài theo các BHCD do các cơ quan đại diện thực hiện được ghi nhận trong công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao và Công ước Viên năm 1963 về quan hệ lãnh sự. Khi tiến hành các hoạt động BHCD đi làm việc ở nước ngoài theo các ĐƯQTVHTLĐ, các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải dựa trên cơ sở pháp lý là các văn bản pháp luật quốc gia về BHCD và các điều ước quốc tế hữu quan về bảo hộ công dân.
Đến nay, Chính phủ nước ta đã mở 96 cơ quan đại diện và 20 Cơ quan Lãnh sự danh dự Việt Nam ở khắp các châu lục. Chính phủ đã cho phép tiếp tục mở thêm một số Cơ quan đại diện trong thời gian tới, đưa con số Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài lên gần 100 cơ quan. Với bộ máy này, công tác bảo hộ, giúp đỡ công dân ở nước ngoài đã và chắc chắn sẽ đạt được nhiều kết quả tích cực. Tại các Đại sứ quán ở địa bàn có đông lao động Việt Nam như: Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Qatar, UAE, Séc…, đều đã thành lập Ban Quản lý lao động.
Bộ Ngoại giao Việt Nam là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ giúp thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà nước đối với công tác lãnh sự ở trong và ngoài nước. Ngoài ra, Bộ Ngoại giao còn đóng vai trò là cơ quan tham mưu giúp Chính phủ trong công tác BHCD ở nước ngoài, chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện; chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan đề xuất việc thực hiện đàm phán ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương trong lĩnh vực di cư, tham gia các tổ chức, các diễn đàn quốc tế về di cư nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam, đồng thời góp phần tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực di cư
Ở trong nước, lãnh đạo Bộ Ngoại giao triệu đại sứ, trao công hàm; trả lời phỏng vấn báo chí của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao hoặc Tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao về vấn đề bảo về quyền lợi của công dân; Cục Lãnh sự (Bộ ngoại giao) gửi công hàm cho Đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội hoặc Cục trưởng Cục Lãnh sự mời Đại sứ nước liên quan trao công hàm; Bộ Ngoại giao ta gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao nước ngoài liên quan; cử Đoàn công tác liên ngành trong nước ra nước ngoài thực hiện bảo hộ.
Ngoài ra, một số bộ, ngành hoặc hội nghề nghiệp, đoàn thể quần chúng hoặc một số chính khách của ta phát biểu hoặc ra tuyên bố công khai phản đối, lên án việc xâm phạm lợi ích hoặc đối xử thô bạo với công dân, pháp nhân của ta.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê