1.Điều luật là gì?

Điều luật là đơn vị cơ bản có đánh số thứ tự của một văn bản quy phạm pháp luật.

Mỗi điều luật thường chứa một quy phạm pháp luật nhưng cũng có trường hợp, một điều luật chứa trong nó không phải là một mà là hai, ba có khi là bốn hoặc nhiều hơn các quy phạm và khi đó điều luật thường được chia thành nhiều khoản, điểm khác nhau. -

Một văn bản quy phạm pháp luật là tập hợp gồm nhiều điều luật và được đánh số từ 1 cho đến cuối cùng. Văn bản quy phạm pháp luật ít nhất cũng phải có một điều luật nhưng thường ít cũng đến 5 hay 6 điều luật, loại hạng trung có từ một trăm điều luật trở lên đến hai, ba trăm điều, cũng có văn bản quy phạm pháp luật có đến hàng trăm điều, có khi lên đến hàng nghìn điều luật. Theo chiều hướng chung hiện nay, các nhà nước ban hành văn bản quy phạm pháp luật gồm nhiều hoặc rất nhiều điều luật nhưng dù ít hay nhiều, các điều luật trong một văn bản quy phạm pháp luật phải hợp thành một thể thống nhất nội tại.

2.Điều luật về ngành nghề bất động sản là gì?

Điều luật về ngành nghề bất động sản là tôn chỉ, những quy định được tạo ra để lĩnh vực kinh doanh bất động sản luôn đi theo 1 chiều hướng tích cực. Những luật định này đưa ra nhằm mục đích nâng cao chất lượng của những đơn vị, cá nhân, tổ chức chuyên kinh doanh và buôn bán bất động sản. Hiện nay trên thị trường bất động sản đang khá rầm rộ bởi các dự án đang được sự bảo trợ từ phía ngân hàng. Nhu cầu nhà ở cũng đang khá cao, chính vì vậy ngành nghề môi giới bất động sản hiện đang khá “hot” trên thị trường việc làm hiện nay. Tuy nhiên, vẫn còn những thiếu sót trong khâu quản lý và giám sát của các cơ quan chuyên trách đối với các đơn vị hay tổ chức kinh doanh ngành nghề bất động sản. Điều luật về ngành nghề bất động sản luôn được cập nhật liên tục theo các năm, nhằm tăng cường chất lượng của lĩnh vực này.

3. Cách trích dẫn điều luật trong văn bản pháp luật?

Khi viết về các vấn đề nói chung hoặc vấn đề pháp lý nói riêng, việc tham khảo, viện dẫn tài liệu là rất quan trọng nhằm bày tỏ sự tôn trọng của nhà nghiên cứu đối với tác giả của những đề tài đã được tham khảo, đồng thời thể hiện sự tìm tòi, học hỏi của người viết trong lĩnh vực nghiên cứu.

Việc trích dẫn tài liệu nói chung, trích dẫn điều luật nói riêng đối với sinh viên ngành luật, người hành nghề luật, trong quá trình học tập và viết pháp lý còn quan trọng hơn thế. Tuy nhiên, liệu chúng ta đã biết cách trích dẫn điều luật trong văn bản pháp luật một cách đúng chuẩn?

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn đăng ký bảo hộ giống cây trồng tại Việt Nam

Tại sao cần trích dẫn điều luật?

Trong môi trường pháp lý, người viết phải dẫn chiếu căn cứ pháp lý để chứng minh, bảo vệ quan điểm của mình. Căn cứ pháp lý thường là các điều khoản nằm trong các văn bản pháp luật, ví dụ: Hiến pháp, Bộ luật, luật, Nghị quyết của quốc hội… Như chúng ta đã biết, Việt Nam có một hệ thống văn bản pháp luật đồ sộ do nhiều chủ thể ban hành từ Hiến pháp, Bộ luật, luật đến các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của các bộ ngành…

Mỗi văn bản pháp luật lại bao gồm nhiều phần, chương, mục, điều, khoản, điểm; chưa kể nhiều văn bản lại trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế do sự thay đổi của quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Do vậy, để người khác đồng tình với quan điểm của mình, đòi hỏi người hành nghề luật phải trích dẫn cụ thể “địa chỉ” quy định là căn cứ pháp lý bảo vệ cho quan điểm đó.

Cách trích dẫn điều luật

Điều luật nằm trong các văn bản pháp luật cụ thể, do đó, chúng ta cần lưu ý cả cách trích dẫn điều luật trong văn bản pháp luật.

Thứ nhất: Cách trích dẫn văn bản pháp luật

Khi trích dẫn văn bản lần đầu, người viết phải trích dẫn đầy đủ, cụ thể:

Khi trích dẫn văn bản là bộ luật, luật, pháp lệnh, chúng ta phải ghi đầy đủ tên loại văn bản, tên gọi của văn bản và số, ký hiệu văn bản. Ví dụ: Căn cứ Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13.

Khi trích dẫn các loại văn bản khác (Nghị quyết, Nghị định, Thông tư), người viết phải ghi đầy đủ tên loại văn bản; số, ký hiệu văn bản; ngày, tháng, năm ban hành văn bản; tên cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và tên gọi của văn bản.

Ví dụ 1: Căn cứ Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án

Ví dụ 2: Căn cứ Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.

>> Xem thêm:  Thế nào là bí mật kinh doanh và bảo vệ bí mật kinh doanh như thế nào ?

Ví dụ 3: Căn cứ Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13 tháng 3 năm 2020 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (Covid – 19)

Đối với lần trích dẫn tiếp theo, người viết chỉ cần trích dẫn tên loại và số, ký hiệu của văn bản đó. Ví dụ: Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP; Nghị định số 167/2013/NĐ-CP; Thông tư 01/2020/TT-NHNN…

Đối với văn bản pháp luật sửa đổi, bổ sung, người viết cần trích dẫn cả văn bản bị sửa đổi, bổ sung và văn bản sửa đổi, bổ sung. Ví dụ: Căn cứ Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2018.

Người viết cần lưu ý rằng, khi trích dẫn văn bản đã được sửa đổi, bổ sung, không được trích dẫn văn bản hợp nhất (ví dụ: không trích dẫn “căn cứ Văn bản hợp nhất số 902/VBHN-BKHĐT ngày 12 tháng 02 năm 2019 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hợp nhất Nghị định về đăng ký doanh nghiệp). Về bản chất, văn bản hợp nhất không phải là văn bản quy phạm pháp luật; việc hợp nhất nhằm giúp người dân dễ dàng theo dõi quy định của pháp luật để thực hiện. Do đó, người viết phải dẫn đúng tên văn bản chứa đựng điều khoản cần trích dẫn.

Thứ hai: Cách trích dẫn điều luật

Trường hợp trích dẫn đến điều, khoản, điểm thì người viết không phải xác định rõ phần, chương, mục, tiểu mục có chứa điều, khoản, điểm đó.

Trường hợp trích dẫn đến khoản, điểm thì người viết phải xác định rõ khoản, điểm thuộc điều nào của văn bản đó.

Trường hợp trích dẫn các điều, khoản, điểm của một văn bản cụ thể thì viết hoa chữ cái đầu của điều, khoản, điểm (tức là Điều, Khoản, Điểm).

Ví dụ: Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 27 Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13

Trường hợp trích dẫn đến phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của một văn bản thì người viết phải viện dẫn theo thứ tự từ nhỏ đến lớn và tên của văn bản; nếu trích dẫn đến khoản, điểm khác trong cùng một điều hoặc từ mục, tiểu mục, điều này đến mục, tiểu mục, điều khác trong cùng một chương của cùng một văn bản thì không phải xác định tên của văn bản nhưng phải trích dẫn cụ thể.

Trên đây là nội dung bài viết về cách trích dẫn điều luật trong văn bản pháp luật. Cảm ơn Quý khách hàng đã quan tâm, theo dõi bài viết này của chúng tôi.

>> Xem thêm:  Xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính và hình sự ?

4. Các thuật ngữ "điểm", "khoản" trong một điều luật được quy định tại văn bản QPPL nào?

Trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 có quy định .
Ngôn ngữ, kỹ thuật văn bản quy phạm pháp luật

1. Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt.

Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.

2. Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định trực tiếp nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác.

3. Văn bản quy phạm pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng thì tùy theo nội dung có thể được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm; đối với văn bản có phạm vi điều chỉnh hẹp thì bố cục theo các điều, khoản, điểm. Các phần, chương, mục, điều trong văn bản quy phạm pháp luật phải có tiêu đề. Không quy định chương riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong văn bản quy phạm pháp luật nếu không có nội dung mới.

5.Quy định của pháp luật về vụ án không có điều luật để áp dụng

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì vụ án nào đó mà không có quy định của pháp luật để áp dụng thì Tòa án vẫn sẽ thụ lý để đảm bảo cho tất cả các vụ án dân sự được giải quyết, theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 có quy định về Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:

“Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

>> Xem thêm:  Định nghĩa về bí mật kinh doanh và những loại thông tin có thể đăng ký bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh ?

Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.

Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định.”

Vụ việc dân sự quy định trên bao gồm: vụ án dân sự và việc dân sự, nên khi vụ án dân sự chưa có điều luật áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.

Để giải quyết các quy định của pháp luật về vụ án không có điều luật để áp dụng theo quy định tại Điều 45 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì thủ tục giải quyết như sau:

Áp dụng tập quán pháp: Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Dân sự thì Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự.

Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự.

– Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định. Tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự.

– Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng.

– Tòa án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự.

>> Xem thêm:  Cổ đông không góp đủ vốn đã đăng ký, giải quyết như thế nào ? Có được góp vốn bằng bí mật kinh doanh ?

Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự.

Áp dụng tương tự pháp luật:

– Tòa án áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 45 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

– Khi áp dụng tương tự pháp luật, Tòa án phải xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.

Áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng:

– Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5 và khoản 1 Điều 6 của Bộ luật dân sự, khoản 1 và khoản 2 Điều 45 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

– Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là những nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự.

– Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.

– Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.



Nguồn: https://kienthucluatphap.com/quy-dinh-cua-phap-luat-ve-vu-an-khong-co-dieu-luat-de-ap-dung.html#ixzz6tUcrGWv8

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật?

Trả lời:

1. Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

2. Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

3. Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

4. Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

5. Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

6. Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Câu hỏi: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật?

Trả lời:

1. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về tiến độ trình và chất lượng dự án, dự thảo văn bản do mình trình.

2. Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình hoặc cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền ban hành văn bản về tiến độ soạn thảo, chất lượng dự án, dự thảo văn bản được phân công soạn thảo.

3. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền được đề nghị tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về nội dung và thời hạn tham gia góp ý kiến.

4. Cơ quan thẩm định chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình hoặc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kết quả thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Cơ quan thẩm tra chịu trách nhiệm trước cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kết quả thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

5. Quốc hội, Hội đồng nhân dân và cơ quan khác, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về chất lượng văn bản do mình ban hành.

6. Cơ quan, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

7. Cơ quan, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết có nội dung ngoài phạm vi được giao quy định chi tiết.

8. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải chịu trách nhiệm về việc không hoàn thành nhiệm vụ và tùy theo mức độ mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và quy định khác của pháp luật có liên quan trong trường hợp dự thảo văn bản không bảo đảm về chất lượng, chậm tiến độ, không bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được phân công thực hiện.

Câu hỏi: Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật ?

Trả lời:

 Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành.